(+)ĐỨC ÁI KHÔNG MỪNG KHI NGƯỜI KHÁC BỊ KHỔ, CÙNG VUI KHI HỌ ĐƯỢC THỊNH SỰ
 
“Đức ái không mừng khi người khác bị khổ, lại vui khi họ thịnh” (I.Cor.13,5)

1. – MỐI TÌNH CẢM THƯƠNG CẦN THIẾT.

Tình cảm thương, là mối tình cần thiết. Không nói chi nhân loại có trí khôn suy sét, ngay đến thú vật, tình tự nhiên vẫn có: Một con ngựa đau, cả tàu chê cỏ. Chị ngã, em nâng, thành như một cử chỉ tự nhiên, không thể không có.

Trong Cựu Ước, ông Job tuyên bố: “Tôi khóc thương con người bị tủi phận khổ sở, tâm hồn tôi thương số phận người thanh bần”  (Job.30,25)

Cảm thương người đau khổ, là mối tình rất tự nhiên của con người đối với đồng loại, nếu thiếu tình thương, ta hoài nghi đức ái nơi người có thực chăng.

Xem gương Chúa Cứu Thế thương bà quả phụ thành Na-im có cậu con trai con một chết. Chúa cảm động trước mồ Lazarô, Chúa khóc, khiến dân chúng nhìn thấy, bảo nhau: KÌa xem người yêu quý Lazarô chừng nào? Chúa chạnh lòng thương người bất toại, nằm liệt đã 38 năm! Khi dân theo Chúa có vẻ tất tưởi, Người đã thốt lên: “Miserior super turbam!” Ta thương đám dân chúng!

Thánh Phaolô cùng một tâm tình như Chúa Giêsu, vì thánh tiến sĩ Gioan Kim Khẩu nói: “Quả tim Phaolô giống hệt quả tim Chúa Giêsu” (Rom.12,15). Nên Thánh Tông đồ đã bộc lộ: “Cùng vui với người vui, khóc với người khóc.

2. – MỐI TÌNH CẢM THƯƠNG HỮU ÍCH

Thánh Âu-cơ-tinh nói: “Tình cảm thương là gì, nếu không phải trong lòng ta chất chứa tình xót thương nổi đau khổ người khác, và tùy khả năng thúc ta nâng đỡ họ”.

Tác giả Pastor quyết lúc thuận tiện nhất để chinh phục lòng người ta, chính là lúc họ lâm nạn. Tôi xin đan cử mẫu chuyện nhỏ:

Tại tỉnh Ninh Bình, Bắc Việt, có ông Chánh sứ Pháp, có lẽ nhập bè Tam điểm (tức là vào bè Nhiệm), có thái độ khe khắt với các trường tư thục Công Giáo. Cha thừa sai Lambert (Cố Lan) coi xứ Phúc Nhạc, lên công sở tỉnh lỵ phản đối. Ông Chánh sứ bực tức, vô phương đối lại. Cuộc tranh cãi găng có vẻ gây hấn, cùng kế ông chánh sứ nói: “Thôi, ông ra khỏi nơi đây”. Vị thừa sai đáp: “Đây là công sở nhà nước, tôi có quyền ở lại đây, không phải tư thất riêng mà ông đuổi được tôi”. Lúc chia tay mỗi bên vẫn giữ lập trường mình.

Sau ông chánh sứ bị bà ly dị, lòng ông chua xót khôn tả, cha Lambert là người thứ nhất viết thư chia buồn, rồi cha còn thân hành đến tận nhà ông sứ, lấy tinh thần bác ái an ủi. Ông chánh sứ hết sức cảm động, đã thốt lên: “Tôi tưởng vì bất đồng quan điểm, cha không bằng lòng với tôi, cha giận tôi, không ngờ khi gặp đau khổ, bao nhiêu bạn hữu bỏ rơi, ít ra là lơ đi, cha là người thứ nhất biên thư, cha cũng là người thứ nhất đến thăm yên ủi tôi, tôi vô cùng cảm động”.

Từ đó cho đến khi ông thuyên chuyển, hễ cha Lambert nói gì, ông cũng niềm nở làm đúng như ý.

Nếu làm thủ lĩnh, phải khéo biết ủy lạo các người cùng cộng tác với mình. Thánh Giêronimô trong bức thư văn chương tuyệt bút, gửi cho thầy Hêliodorô có viết: Chúng tôi không phải là hạng người có tâm tình trơ trơ như sắt, dạ cứng như đá. Không giống bầy cọp xứ Hyreana, chỉ lấy đá lửa, mà nuôi con mình đâu. Cả chúng tôi đây, đã trải qua những thử thách đó, tôi cất tiếng sợ hãi mà tuyên bố” .

3. – VÌ ĐÂU NÊN NỖI BẤT NHÂN?

Đọc Phúc Âm đoạn kể dụ ngôn người bộ hành bị quân cướp đánh, bỏ nửa sống nửa chết. Xảy ra vị thượng tế đạo cũ cùng đi con đường ấy nhìn thấy nạn nhân, cứ điềm nhiên đi. Cả thày thuốc dòng tộc Lêvi, qua gần nơi đó, mục kích cảnh thương tâm, cũng bỏ đi nốt” (Luc.10,31-32).

Tại sao hai người có thái độ, nói được là vô nhân đạo như thế?

a) Hoặc tại tự cao, xét địa vị mình giúp người mạt hạng, hình như hổ mặt thế nào: nên bỏ qua không chút thương tình.

b) Hay là không hy vọng lợi lộc gì, có lẽ con người ham lợi lý luận: Chẳng trông lợi chi, giúp làm gì .

c) Thường ra là tại tấm lòng chai đá, vì gặp mãi cảnh thương tâm nên mới coi thường đau khổ kẻ khác, không muốn bận tâm.

d) Có khi tại nền giáo dục gia đình lúc bé thơ: quan sát lũ trẻ cùng đi học với nhau, một đứa vừa trượt chân ngã, là cả lũ cười ồ, ra chiều thích thú, thay vì có nét mặt thương hại, xúm xít nâng đỡ, hỏi han có hề chi không? Có đau lắm không? Để tôi mang hộ sách, tôi xách giúp đôi guốc, tôi cầm đỡ chiếc áo lấm v.v… Còn bé đã quen như thế, lớn lên ít thông cảm đau khổ kẻ khác.

e) Sau hết nhất định bỏ đi như thế, là do tính ích kỷ, bỏ đi cốt tránh rày rà cho mình cũng có thể vì tiếc thời giờ, không muốn bỏ dở cuộc hành trình, hoặc sợ tổn hại của cải, hay là e sợ ách giữa đàng, quàng vào cổ.*

4. – PHẢI BIẾT CÙNG CHUNG VUI.

Thánh Gioan Chrysostomô nói: “Các sự lành người khác được, coi như chính mình được vậy. Nhất là đàn anh đối với đàn em, có thể xử như mẹ hiền, khi đứa con được gì vui, mẹ mừng cho con hơn chính mình nó mừng. Con đi học về được thưởng, ai mừng hơn? Đứa trẻ hay mẹ nó? Cậu học sinh nhỏ, chữ viết dù cho chưa khả quan gì, cứ tưởng lệ cho em, em sẽ thêm phấn khởi.

Sách Ngạn ngôn trong Kinh Thánh viết: “Một người anh em, mà được anh em khác tưởng lệ, ví như thành trì vững chắc”. Đừng bao giờ thấy kẻ khác đau khổ, đã chẳng thương xót thì chớ, còn đệm thêm câu: Ừ cho chết. Như thế mình lỗi bác ái, không chịu để trí tới (Prov.18,19)

Cộng Đồng Đông Dương họp tại Hanoi, nêu lên khoản 58 thực hành bác ái như sau: “Ta, (các Nghị phụ Cộng đồng) nhấn mạnh, khuyên giữ bác ái đối với hết mọi người, bởi vì đó chính là biểu hiện riêng môn đệ Chúa Kitô, được phô diễn bằng những dấu chỉ huynh đệ tương thân tương ái và thi ân cho nhau”).

5. – THỰC HIỆN LÀM SAO?

a) Chia vui sẻ buồn: để thực hiện, ta nghe lời Thánh Athanasio Giám mục: “Tình cảm thương là tận tâm chia sẻ với đồng loại tất cả những đau khổ hồn cũng như xác”).

b) Ta hãy tự vấn lương tâm xem:

1) Khi gặp ai lỗi phạm, tôi có rầu trong lòng, vì họ đi trệch đường lối thiêng liêng chăng? Có cầu nguyện để đương sự mau cải quá tự tân, hay tôi mặc kệ! Khi cần báo cho vị có thẩm quyền để ngăn ngừa sự dữ khỏi lan tràn, tôi có làm không?

2) Gặp các anh em đau yếu, tôi có thăm nom giúp đỡ an ủi. Nếu bệnh nặng, tôi có lo để họ chịu các phép Bí Tích, hay là có thái độ dửng dưng?

3) Trường hợp danh giá người vắng mặt bị đe dọa, tôi có thương tình, nhắc bảo hợp thời, phải nơi, đúng cách, liệu hết sức cảnh tỉnh, bảo tồn danh giá?

4) Nếu bị bỏ vạ, tôi có sẵn lòng bênh hộ, chứng minh khôn khéo, không bênh một cách vụng về, lại càng ra như buộc tội chăng?

5) Anh em gặp cảnh sầu buồn, bị tang tóc, ta có làm gì giải khuây, mời đi đàm đạo, nêu lẽ thuận lẽ nghịch, nhất là lẽ Đức tin, làm vững dạ những người đang nao núng không?

c) Chứng cứ:

1) Thánh Tông đồ Phaolô nói: “Có ai đau yếu, mà tôi không đau yếu với? Ai vấp phạm mà tôi không nung nấu trong tâm hồn sao?” (II.Cor.11,19).

2) Thánh tiến sĩ Bernardô làm chứng: “Bẩm tính tự nhiên con người khuynh hướng về sự giận dỗi, hơn là cảm thương”. Đó là con người tự nhiên, chúng ta phải tỏ ra phản ứng siêu nhiên, như Thánh Maisen được Thánh Kinh khen: “Nhờ Đức tin và Đức hiền hậu, làm người nên thánh” (Eccli.45,4)

3) Thánh Phaolô tuyên bố: “Tôi trở nên mọi sự cho mọi người”. Bởi vì Thánh Phanxicô đệ Salê thi hành chu đáo phương pháp đó. Nên chi trong kinh nguyện Hội Thánh đọc, ngày lễ kính Người đã lặp đi lặp lại câu châm ngôn: Omnia omnibus factus; quả quyết Thánh nhân đã trở nên mọi sự cho mọi người (Omnia omnibus factus sum) (I.Cor.9,22).

6. – KẾT THÚC LÒNG THƯƠNG XÓT

Để kết thúc những tư cách tiêu cực, phải tránh để khỏi va chạm đến bác ái, chúng tôi xin nói thêm mấy dòng về Lòng thương xót:

a) Bắt chước lòng thương xót Chúa: Lòng nhân từ thương xót của Chúa thật bao la. Trong Thánh Vịnh 135, có tới 26 lần lặp đi lặp lại: “Vì lòng xót Chúa cho đến đời đời.

b) Đúng nghĩa danh từ thương xót (misericorđia) nếu hiểu là một cảnh thương tình, thì nó là một giác tình quy về tình cảm. Nhưng nếu hiểu đúng thương xót là một nhân đức luân lý, thánh Thoma định nghĩa: “Là một nhân đức hướng ý chí đến mối tình đích đáng cảm thương nỗi đau khổ kẻ khác, và nâng đỡ đau khổ đó”.

7. – ÁP DỤNG CỤ THỂ

TIỂU SỬ CHA TRÀNG PHAOLÔ TUẤN (R.P Schlotterbek).

Tôi viết lên mấy dòng tiểu sử với cả một tấm lòng cảm mến tri ân sâu xa của tôi, đối với Cha Già khả ái. Nếu Chúa Giêsu thật lòng biết ơn dưỡng phụ Giuse, tôi cũng xin bắt chước, dâng tấm lòng tri đối với cha nuôi khả kính. Tôi không dám đề cao quá đáng, chỉ xin lưu lại ít hàng về đời sống cha, nhất là tấm lòng thương người của Cha, không một ai quen biết mà không ca ngợi hết lời; và còn nhắc đi nhắc lại với nhau tình thương vô bờ bến.

Cha Phaolô Maria Schlotterbek, sinh 1867 chính quán ở Alsace-Loraine, phần đất Pháp bị Đức chiếm, gia đình thiên về mạn Nam nước Pháp ở Préjus phía Địa Trung Hải. Thân phụ chuyên nghề chế Phong cầm (Harmonium). Chính chiếc đại phong cầm nhà thờ Chính tòa Phát Diệm, là quà gia đình tặng cha khi sang Việt Nam.

Cha tràng Tuấn nhập chủng viện tu-hội Truyền Giáo Ngoại Quốc Paris, sau khi đã học hết ban Triết học mới 16 tuổi. Ở Đại Chủng Viện, Thày Phaolô học xong chương trình thần học, mà chưa đủ tuổi chịu chức Linh mục, dù tuổi được chuẩn cũng chưa.

Theo cựu lệ hội thường quen chọn một số đại chủng sinh xuất sắc hơn gửi đi Giáo đô Rôma trau dồi tri thức, các thày cắp sách theo học ở Đại học đường Grégorien, do các cha dòng Tên điều khiển. Ở Roma hai năm thày Phaolô trở về Paris chịu chức Linh mục ngày 1 tháng 7 năm 1891.

Vị tân thừa sai được lệnh đi truyền giáo địa phận Tây – Đàng Ngoài – tức Hà Nội (Tonkin Occiden-tal), hồi đó còn gồm cả Thanh-Đoài là địa phận Hưng Hóa, và Phát Diệm với Thanh Hóa.

Trước hết vị Linh mục trẻ tuổi, học thức rộng rất tận tụy, được cử làm bí thư tư Đức Cha Đông (Mgr Gendreau): ghi lại thời kỳ sơ khai đó, sau ngày 15/10/1935, nghĩa là ngày Đức Cha Thành (Mgr Mareou) hưu trí, cha tràng Tuấn soạn hồ sơ ở tòa Giám mục Phát Diệm, gặp lại tờ chính tay Ngài viết, đã nhân danh Đức Cha Đông cho phép Cố Thành Bề trên Đại chủng viện Kẻ-Sở một đặc ân, Ngài bèn từ Phát Diệm lên Ninh Bình, đón gặp Đức Cha Thành ở Hồng Kông về qua đó vào Thanh, giơ giấy tờ cũ, ôn lại truyện xưa.

Sau đó cha được cử làm cha phó cố Lộc sau làm Đức Cha (Mgr Raymond) đó đang truyền giáo miền Nam-Xang, thuộc địa phận Hưng Hóa hai năm rồi bổ về Tiểu chủng viện Thánh Phêrô ở Hoàng Nguyên (Hà Đông), làm giáo sư lớp Tu-từ (Rhéto-rique) hai năm.

Hết hai năm ở Hoàng Nguyên, cha được cử làm hạt trưởng miền Đồng-Chưa huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình, khởi sự lập xứ Vô-Hốt ở phủ Nho Quan. Gần Đồng-Chưa có xã Lạc-Khoái, trù phú nhất huyện, Ngài cố gắng truyền giáo, nhưng không kết quả. Một hôm tôi cùng Ngài đi thuyền qua đó, Ngài giơ tay chỉ, và nói chỗ này đã tốn khá nhiều mà không thành họ đạo. Nhưng không sao cả, đã rửa tội được mấy người trước khi chết, là đủ; linh hồn người là trọng, chứ của cải không đáng kể.

Bây giờ tôi xin kể câu chuyện Cha Già giàu lòng bác ái, thương người tân tòng. Đức Cha Đông thương vị bí thư cũ, ban cho một áo lễ nhung thúc quấn chỉ vàng: kỳ cấm phòng ở Kẻ-Sở, Đức Cha đi qua chỗ bán đồ, nhận thấy áo lễ của mình đã chuộc lại và bán lần thứ hai, và lần thứ ba nữa: vì nhà truyền giáo không có tiền giúp người nghèo, đành phải bán quà kỷ niệm tới ba lần.

Năm 1903, cha được đặc cách cử làm Giám Đốc Tiểu chủng viện Thánh Phaolô Phúc Nhạc; Ngài giữ chức đó đến năm 1909: khóa thứ nhất này sáu năm rưỡi.

Năm 1909 Ngài thuyên chuyển về Tòa Giám mục Phát Diệm làm quản lý.

Khi hết nhiệm vụ ở sở Quản lý, Ngài còn tạm coi trụ sở truyền giáo ở Quảng Phúc thay Cha Già Dũng (P.Soubèyre) uống thuốc HồngKông vào kỳ hè 1916.

Đến lễ Ba Vua 1917 Ngài trở lại Tiểu Chủng viện làm Giám đốc kỳ thứ hai suốt 11 năm rưỡi. Dồn cả hai kỳ lại là 18 năm trường ở Tiểu chủng viện. Lòng thương kẻ liệt thực là vô bờ bến, không hề mè hè, kiêng sợ một thứ bệnh nào. Một học sinh thổ huyết, Ngài bắt các học sinh khác tránh xa, kẻo lây, còn mình quì gối hốt máu đã thổ ra, rồi đổ thuốc sát trùng đem chôn.

Có chủng sinh đau bụng hắc loạn, nắm chặc lấy râu, Ngài cứ chịu vậy. Để khuyến khích kẻ liệt đừng sợ thuốc, bất luận thứ thuốc gì dù khó uống mấy, cha cũng nhấm nháp như đồ ăn ngon lành.

Chương trình học được nâng lên, thêm hình học, đại số học, vạn vật, v.v… Năm 1920 nhận thấy tuy là có một số múa võ, nhưng phần đa số học sinh ít vận động, cha bèn tự mình đứng tập thể thao mỗi tuần các sáng thứ tư, mặc dầu tuổi đã lục tuần.

Năm 1922 kỳ Đức Khâm Mạng Tòa Thánh Léc-roart S.J dòng Tên Giám mục ở Trực-Lệ Trung Hoa, thay mặc Đức Giáo Hoàng Khâm mạng tiên khởi viếng các địa phận Việt Nam, Ngài giục học sinh có gì nguyện vọng cần tâu lên Đức Giáo Hoàng, cứ thành thực trình cùng Đức Khâm-Mạng, hay thưa với vị Bí Thư là Cha Truclert. Chính nhờ cơ hội này mà các chủng viện ở Việt Nam được cải tổ sâu rộng.

Lòng bác ái chỉ lo cho người khác, mà quên chính mình. Cũng thời kỳ đó, tôi làm phụ giáo giúp coi lớp đệ Lục, một đêm, có chú nhỏ đánh thức tôi, nói: Trái tim con ngừng chạy. Tôi chẳng biết xoay xở thế nào, bèn lên gõ cửa cha Giám Đốc. Ngài săn sóc, rồi bảo tôi: Thôi thầy giáo về ngủ vì mai còn phải dạy học; để thầy coi, thế là Ngài thức cả đêm với kẻ liệt.

Các Cha các Thầy Thanh Hóa, Phát Diệm dù lâu năm hay nhắc đến tấm lòng bác ái vượt mức, khác thể bà từ mẫu chăm sóc các con mình.

Đến hè 1927, cha già về Đại chủng viện, dạy Tín-lý và làm cha linh hướng, đúng theo Giáo luật, cho đến 1932 sửa soạn chia địa phận Thanh Hóa, cha già còn lãnh chức Giám đốc Đại chủng viện 4 năm, cho tới 1936, mới vào Thanh Hóa, gọi là nghỉ nhưng đi làm Bí thư theo Đức Cha Thành đi kinh lý nhiều địa phận thuộc quyền Hội thừa sai ngoại quốc Paris. Hồi làm giáo sư ở Đại chủng viện đồng thời cha giải tội thường lệ nhà Tập, kỳ đó ma quỷ khuấy khuất dữ. Cha cùng với cha Chính Thảo, hết sức giúp cha Hành lướt thắng mưu quỉ. Để trị quỉ, trước cha định đặt Tượng Đức Thánh Micae, sau đổi ý đặt Tượng Thánh Giuse, khiến quỉ dùng miệng mấy người chúng ám xưng ra “Hai ông lão (là cố chính Thảo và ngài) phá việc mình, lại còn rước ông lão thần thế hơn nhiều tức Thánh Giuse) thì chúng ta làm gì được?”

Nhiều nữ tu kể lại: hễ đọc câu kinh cầu: “Ông Thánh Giuse các ma quỉ kinh khiếp”, y như là các người bị quỉ khuấy nhất tề hoảng hốt khiếp sợ run lật bật. Cỗ tượng Thánh Cả Giuse còn lưu lại ở cửa cạnh nhà nguyện Lưu Phương.

Sống bên cạnh cha tràng Tuấn lâu năm, nhận thấy đời sống Cha có mấy đặc điểm:

Đời sống đạo đức: Cha Phaolô có một nếp sống khả dĩ treo gương đời sống Linh mục, nhìn qua thời biểu hằng ngày của cha: hồi 4 giờ sáng Cha đã dậy, sửa soạn xỏ bít tất đàng hoàng; nhưng vì không muốn phá giấc ngủ của những người còn an giấc, tay Cha xách giầy lên nhà nguyện, đến nơi mới xỏ giầy.

Sau mấy phút thờ lạy Mình Thánh Chúa, việc đầu tiên là cha đi ngắm Đường Thánh Giá; xong việc đạo đức đó, Cha nguyện ngắm đủ 40 phút. Đúng 5 giờ hiệu dậy, Cha về phòng đọc kinh Ban Mai và kinh Tán tụng (Matutium et Laudes), dọn mình làm lễ.

Đúng 6 giờ cha làm lễ trang nghiêm sốt sắng, lễ xong cha cảm ơn đủ 20 phút. Khi mọi người ra về, Cha đến quỳ gần cửa kính sáng, đọc giờ nhỏ thứ Nhất và thứ Ba (Prima et Trtia); rồi mới về phòng làm việc. 9 giờ Cha dạy khoa Thần học về Luân lý; 10 giờ lên nhà nguyện đọc giờ nhỏ thứ Sáu và thứ Chín (Sexta et Nona).

Đầu giờ nghỉ trưa, Cha lại lên nhà nguyện đọc kinh Trưa (Vesperae et Completorium). Khéo xếp như thế thành ra ban ngày không mất thời giờ lâu để nguyện. Trước giờ cơm tối bao giờ cha Phaolô cũng đến viếng Mình Thánh và giờ đọc kinh tối, luôn luôn cha có mặt ở nhà nguyện. Sau đó về làm việc khuya mới đi nghỉ.

Chỗ nằm nghỉ thế nào cũng xong, có khi nằm ngay trên sàn nhà, không phải sàn gỗ bằng phẳng mà sàn phên đan bằng tre su-si; rồi có lần, thay vì gối tử tế, gối chỉ là cái võng vo gọn lại.

Đời sống tri thức: Nhờ nền học thức uyên thâm môn học nào cha cũng biết, mà biết một cách sâu rộng: nên khi có giáo sư đau yếu, hay đi vắng, cha có thể cắp sách đi dạy thay dễ dàng. La-văn cha rất giỏi, viết hay. Suốt mười mấy năm trời làm Thẩm phán Tòa án sơ cấp địa phận, đồng thời làm thẩm phán Đệ nhị cấp xét án Hôn phối địa phận Hanoi và Bùi Chu.

Luôn mấy chục năm ròng rã, Cha làm Bí thư tư cho Đức Cha Thành (Mgr Marcou), không nề quản một công việc gì dù nặng nhọc, vất vả đến đâu, mà Cha thoái thác từ nan. Con người đã lắm tài, lại khiêm tốn, có tài mà không huênh hoang cậy tài: Như chơi đàn dương cầm, Cha rất sành, nhưng chỉ dịp đặc biệt mới cử những bài du dương, còn ngoài ra đánh đàn đơn sơ. Tiếng hát không hay, nhưng hát rất đúng dấu.

Đời sống thể xác: Thiên Chúa đã đặc cách ban cho Cha sức khỏe dồi dào, đối với cha, đi bộ là phương pháp thể thao rất tốt, hễ có dịp là cha đi bộ, bảy tám, mươi mười hai cây số là thường. Nhờ thế mặc dầu cha làm việc rất chuyên cần, nỗ lực, thế mà suốt 30 năm trời chỉ bị đau nằm giường có hai lần. Ngoại lục tuần vẫn còn đứng tập thể thao cho chủng sinh; kỳ Mừng Lễ Kim Khánh 73 tuổi mà chưa già. Khi bị bệnh màng phổi, bác sĩ lên án chỉ sống hai năm, Cha sống được ba năm.

Quan sát thấy hai kỳ Cha bị bịnh, mặc dầu Cha biết thuốc khá, Cha cũng để mặc người phụ trách dặn bảo sao, Cha cứ làm thế, tựa hồ một con trẻ nhỏ vâng lời cha mẹ: Đó cũng là một điểm đáng bắt chước.***

CÁCH ĐỐI XỬ

Trước hết đối với Bề Trên: Cha hoàn toàn vâng lời, không xin miễn một việc gì Đức cha giao, thái độ cha tỏ ra cung kính Bề trên bắt nguồn tự tấm lòng thấm nhuần Đức tin. Cũng có lần có người không được bình với Bề trên, than thở với Cha, hoàn cảnh không cho phép cha bênh về phía Bề trên, thì Cha chỉ trả lời: “Không dám biết”.

Nói được rằng: Cha quả thực đã trở nên dụng cụ ngoan ngoãn để mặc Bề trên dùng việc gì cũng được hết. Bốn năm từ 1932 đến 1936 Cha giao các hồ sơ Tòa Giám mục cho Đức Cha Tòng, Cha đặc biệt trọng kính Đức Giám mục Tiên Khởi Việt Nam.

Khi nghe dư luận thì thào với nhau Đức Giám mục Việt Nam thụ phong muộn quá, Cha tràng Tuấn đã nói như lời tiên tri: ít ra Đức Cha Tòng còn sống được 15 năm; mà sau quả nhiên ngài sống ở địa vị Giám mục đúng 15 năm.

Đối với hàng linh mục: Không những các vị thừa sai trong Hội Truyền giáo ngoại quốc Paris, các ngài yêu cầu chi, Cha làm theo; nhất là đối với các vị truyền giáo ở Châu Lào. Các Cha thừa sai quen gọi tắt vần đầu tên cha là “Père Schlot”.

Các cha Việt Nam, Cha cũng cung kính nhất là các Cha già trong địa phận, các ngài cậy nhờ việc gì, mua đồ bên Pháp như: Chén lễ, khăn thánh, v.v…, cha vui lòng giúp đỡ.

Đối với bậc dưới: Cha thực tình thương xót như Cha già Vũ, là Thày giảng đầu tiên dạy tiếng Việt cho ngài, Ngài thực tình Cha con đến như các nghĩa tử cha già Vũ, ngài cũng quý hóa rõ ra tình ông cháu.

Một cháu khác còn nhỏ tuổi, bệnh nặng ở gia đình mà cứ hằng tuần cha già Ông đi giải tội nhà tập về, dù mưa gió, cũng lội lặm đến tận nhà thăm nom, chỉ cách dùng thuốc thang, chăm đồ ăn thức uống cho cháu.

Còn đối với bản thân: Cha theo nguyên tắc quên cá nhân mình đi, để lo cho người khác, ai càng đau đớn khổ sở, lại càng được cha để ý chăm chút cho. Riêng phần mình, thế nào cũng xong, giữ đúng tinh thần khó nghèo theo tôn chỉ Phúc Âm thư dạy.

Sau khi theo Đức Cha Thành thăm viếng các địa phận, ngài còn nhận chính xứ Thái Vân. Một hôm có người rước kẻ liệt xa, mãi bên ngoài ga Thị Long, dù hai Cha phó sẵn lòng đi thay, nhưng ngài nhận đi, bất ngờ dọc đàng bị bão, dù áo đem theo để thay cũng ướt đầm, suốt đêm cha chịu mặc áo ướt ngồi dựa chân giường đến sáng, vì nhà phòng họ lẽ, xa nhà giáo hữu.

Vì rủi ro như thế cha bị bịnh màng phổi (pleu-résie) sức Cha rất khỏe, chịu được 3 năm, giữa năm 1941 mừng Kim Khánh.

Sang đầu năm 1942, bị nằm liệt ở bệnh viện Thanh Hóa ít ngày rồi lên Hanoi, qua ngày 4/4/1942 qua đời ở dưỡng đường Saint Paul; lúc 8 giờ sáng thứ bảy trước lễ Lá. Ngài đã trút linh hồn êm ái trong tay Đức Mẹ. Đấng ngài âm thầm triều mến. Lễ an táng 6/4/1942 tại nghĩa địa Khương Thượng, cách Ha Noi 4 cây số về phía huyện Hàm Long.

Quả là một vị thừa sai tận tụy với địa phương truyền giáo, đào tạo các Linh mục, mẫu gương bác ái hết dạ thương người đau ốm, nghèo khổ.

Xin Chúa ban thưởng cho đầy tớ trung trực, cả đời đã cung hiến hết sức lực, mưu vinh danh Chúa, và giúp nhân loại theo gương Thánh Phaolô Tông Đồ, là Quan Thày đã được nhận từ giếng rửa tội.

Bài trướcPhần 3(Bài 8): Bác Ái Hay Nhẫn Nhục
Bài sauPhần 2(Bài 6): Đức Ái Không Tức Giận
đôi nết về VĂN THANH: Là một người đam mê công nghệ, gia đình tôi theo phật giáo tuy nhiên nhờ ơn gọi của Chúa mà tôi chính thức gia nhập đạo công giáo từ năm 2015. Nhận thấy trên internet có rất nhiều website về công giáo tuy nhiên rất khó tìm và tra cứu thông tin vì vậy tôi muốn lập ra website này tổng hợp lại các website trên internet đã được lựa chọn cẩn thận và website 'timhieuconggiao.com' đã ra đời, tuy website thô sơ và không đẹp nhưng những tài liệu trên website này đã được tôi tuyển chọn một cách cẩn thận để các bạn là người công giáo cũng như có ý muốn tìm hiểu về đạo công giáo có được một kênh thông tin hữu ích. Ngoài ra website này thiết kế dành cho những bạn là người khuyết tật đặt biệt là những người khiếm thị và nhìn kém.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.