26. ÐỨC MẸ SỐNG ĐỜI  QUẢ PHỤ

 

Từ khi sống đời quả phụ, Mẹ hằng nhìn ngắm
Linh Hồn Con Chí Thánh Mẹ, để hợp nhất với những lời Chúa cầu nguyện hơn. Mẹ chỉ còn làm
việc mỗi ngày có mấy giờ để lo chút ít lương thực. Mỗi ngày, hai Mẹ Con chí thánh chỉ còn
dùng một bữa vào lúc sáu giờ chiều; bữa ăn thường chỉ có một chút bánh khô. Đôi khi mới
thêm ít trái cây, rau hay cá. Nhưng khi có ai mời dự tiệc, Mẹ và Chúa cũng ăn đủ các món
như mọi người. Mỗi lần dọn bữa, Mẹ đều xin phép Chúa để bày ra chút lương thực nghèo nàn
ấy, và mời Chúa dùng. Mẹ quì gối hầu bàn Chúa, Mẹ hay bái gối nhiều lần trước mặt Chúa,
hoặc sấp mình mãi cho tới khi Chúa bảo Mẹ dậy. Mẹ kính hôn chân hay tay Chúa cách khiêm
nhu và kính ái nồng nhiệt nhất.

Không thể nào quan niệm được những hành vi
tuyệt vời Mẹ đã làm trong cuộc sống dưới cùng mái nhà với Chúa Giêsu. Chỉ có các thiên
thần được chiêm ngưỡng quang cảnh lạ lùng ấy. Các thiên thần này, vì được chỉ định để hầu
cận Mẹ, nên thường đón làm trước Mẹ trong việc sắp xếp ngôi nhà đơn nghèo của Mẹ, nhưng Mẹ
cố ý tự mình làm lấy việc ấy. Mẹ biết rõ giá trị của những công việc tôi tớ mà trần gian
khinh chê này.

Chúa Giêsu luôn luôn chuẩn bị việc Cứu Chuộc
thế gian. Mẹ Maria là Đấng Đồng Công với Chúa, cũng đem tất cả tâm hồn cộng tác. Nhìn thấy
trước nhiều người  cứng lòng bị đọa phạt, Nhân Tính Chúa Giêsu đã bị những cơn hấp
hối ghê sợ đến mướt mồ hôi máu nhiều lần. Nhưng Chúa vẫn hăm hở ước mong được sát tế.

Mẹ Maria là Mẹ rất xứng đáng của Chúa, Mẹ hợp
nhất những tâm tình và đau khổ của Chúa, nên đã rơi lệ máu. Mẹ cũng bị suy nhược hầu như
chết. Lúc đó, lại cảm thương Mẹ, Chúa Giêsu hạ lệnh cho các thiên thần nâng đỡ, ủi an Mẹ,
và hát cho Mẹ nghe những khúc ca Mẹ sáng tác. Thỉnh thoảng chính Chúa đích thân nâng đỡ
Mẹ. Khi ấy, Mẹ chìm vào những cuộc xuất thần ngây ngất, Mẹ nhìn thấy Chúa Cứu Chuộc tổ
chức cuộc chinh phục vị tướng lãnh, trước khi quyết định trận chiến, đã thảo kế hoạch,
trao nhiệm vụ cho các tùy tướng của mình. Ngay lúc ấy, Mẹ cũng đã cầu xin cho các Tông đồ
thành công, những Tông đồ sẽ là những thủ lãnh trong cuộc chinh phục cực kỳ bao la ấy.

Tới năm lên hai mươi bảy (27) tuổi, Chúa
Giêsu đã bắt đầu cuộc rao giảng Phúc Âm của Chúa, không những bằng kinh nguyện, chay tịnh,
thức cả đêm để cầu nguyện trên núi vắng, mà còn bằng nhiều cuộc thường xuyên cải thiện cho
nhiều người. Đôi khi Chúa vắng mặt hai ba ngày liền. Trong những ngày đó, các thiên thần
mặc hình người hiện ra giúp đỡ Mẹ Maria, mang đến cho Mẹ những tin tức về Con Chí Thánh
Mẹ, theo lời Mẹ xin. Khi Chúa trở về, Mẹ liền ra quì gối đón rước Chúa, dọn cho Chúa một
bữa ăn thanh đạm, cảm tạ Chúa vì những ơn Chúa đã ban.

Một hôm Chúa nói với Mẹ: “Mẹ ạ, đã đến thời
gian Con phải chuẩn bị cho một số tâm hồn đón nhận giáo lý Con dậy, Con muốn Mẹ đồng công
với Con trong việc này”. Từ hôm đó, Mẹ đi theo Chúa Giêsu trong hầu hết các lần Chúa ra
khỏi Nagiarét. Rất nhiều lần Chúa đi tới các làng quanh vùng và chi tộc Neptali, như tiên
tri Isaia đã nói trước. Ở đâu Chúa cũng loan báo là Chúa Cứu Thế đã đến rồi, nhưng không
để cho người ta biết đó là chính Người.

Chúa ủi an người đau khổ, nâng đỡ người cùng
cực, viếng thăm người bệnh tật, khuyên giúp người hấp hối, gieo rắc ánh sáng, sức mạnh và
ơn cứu rỗi khắp nơi. Mẹ Maria gần như lúc nào cũng là chứng nhân và đồng công vào những sự
việc lạ lùng đó. Tuy nhiên, Mẹ đặc biệt thực thi đức bác ái đối với nữ giới, còn Chúa
Giêsu cho nam giới. Những người nghèo khó là những người được thụ hưởng tình thương của
Chúa hơn hết, vì thường họ khiêm nhượng hơn, ôn hòa hơn, và ít bị ràng buộc với trần thế
hơn.

Những cuộc cải quá lạ lùng, những cái chết
lành thánh, quyền lực bất khả kháng đẩy ma quỉ xuống hỏa ngục, khi Chúa và Mẹ có mặt ở đó,
đã làm cho chúng căm phẫn và tủi hổ. Luxiphe hú lên một tiếng rùng rợn, để triệu tập toàn
thể các quỉ lại mà nói: “Ta không tin là Ngôi Lời đã Nhập Thể làm người, vì ta chẳng thấy
vinh quang Người phải có đâu cả. Vậy sức mạnh nào đã đánh bại ta đây? Ta muốn giết “người
nữ tặc” đã từng chiến thắng ta. Nữ tặc đó sinh một con trai; linh hồn người con này cũng
kín mít, ta không thể xâm nhập được như linh hồn của chính nữ tặc ấy. Vậy  quân bay,
phải cố công khám phá xem Mẹ Con đó là ai, phải bức bách hành hạ Mẹ Con đó cho biết rõ sự
thể mới được”. Bọn quỉ vô phúc đó quyết định vào việc ngay, nhưng Chúa Giêsu không cho
chúng nhìn ra Mẹ Người; còn Người chúng cũng không sao tìm được tông tích cho tới khi Chúa
vào ăn chay trong rừng vắng. Chúa cầu nguyện cho những người sẽ bị cám dỗ. Mẹ Maria cũng
hợp nhất với lời Chúa nguyện cầu. Và Thiên Chúa hứa ban chiến thắng cho những ai kêu cầu
Thánh Danh Chúa Giêsu.

Thánh Gioan Tiền hô, trong thời gian đó, đã
sống như một thiên thần hơn là con người trong rừng vắng. Ông luôn tiếp xúc với Thiên Chúa
và các thiên thần. Ông đã đem giác quan ông vượt lên trên những sự vật trần thế. Để an ủi
ông trong cảnh sống cô quạnh ấy, cứ mỗi tuần lễ một lần, Mẹ Maria lại sai các thiên thần
đến đàm đạo với ông về những việc lạ lùng Ngôi Lời Nhập Thể đã làm. Khi ông lên ba mươi
(30) tuổi, ông được tỏ cho thấy mầu nhiệm Cứu Chuộc một cách rất đầy đủ, và được lệnh là
phải thi hành sứ mệnh Tiền hô của ông. Ông đi chân không, mặc một áo lông lạc đà và thắt
một dây lưng bằng da. Gương mặt ông gầy guộc, nhưng đượm một phong thái oai nghiêm, một
đức khiêm nhu sâu thẳm, đức nhã nhặn kỳ diệu, đức can đảm vô địch và một tâm hồn bừng lửa
bác ái. Giọng nói của ông sống động, hăng nồng sang sảng, đúng điệu cách phải có để nói
với dân Do thái là một dân tộc vừa vong ân vừa chai đá. Trước khi bỏ rừng vắng, ông đã nhờ
các thiên thần mang đến dâng tặng Đức Thánh Trinh Nữ Maria một thánh giá, chính các thiên
thần đã làm cho ông, và ông thường nằm trên đó để cầu nguyện. Mẹ tiếp nhận thánh giá ấy
với những tâm tình quí mến, và đặt trong phòng cầu nguyện của Mẹ. Mẹ vẫn luôn giữ thánh
giá ấy với thánh giá của Chúa Giêsu trong phòng Mẹ. Khi Mẹ qua đời, những bảo vật đó, các
Tông đồ đã giữ làm di bảo.

Chính thời gian này, Đức Chúa Cha đã phán với
Mẹ: “Hỡi Maria con của Ta, con hãy dâng Con của con làm hy lễ cho Ta”. Mẹ trả lời, với một
tâm hồn thật hào hiệp xin vâng ngay.

Sau lễ hy sinh của chính Chúa Giêsu, sẽ không
bao giờ có một lễ hy sinh nào sánh được với hy sinh của Mẹ Maria. Loài người phải tri ân
Mẹ đến đâu, vì nếu Mẹ không hợp nhất lòng Mẹ ưng thuận lại với sự ưng thuận của Cha hằng
hữu, làm gì họ được ơn cứu chuộc!

Để thưởng cho lòng quảng đại tuyệt vời của
Mẹ, Thiên Chúa nâng ngay Mẹ lên một thị kiến thấu thị, ban cho Mẹ những ánh sáng mới về
mầu nhiệm vĩ đại này và nhiều nghị lực mới để đồng công với mầu nhiệm ấy.

Khi Mẹ ra khỏi thị kiến, Chúa Giêsu nói với
Mẹ cách cảm thương tha thiết nhất rằng: “Mẹ ạ, Con được có Nhân Tính là nhờ Mẹ, Nhân Tính
mà Mẹ đã nuôi dưỡng bằng sữa và lao công của Mẹ. Con là Con của Mẹ mật thiết hơn bất cứ
một người nào khác là con của mẹ họ. Bởi thế, Con phải xin Mẹ ban phép cho Con được làm
trọn thánh ý Cha hằng hữu của Con, để cứu chuộc loài người, vì thời giờ đã đến rồi. Nhưng
Con cũng muốn Mẹ cộng khổ vào cuộc Tử Nạn và Thánh Giá của Con, muốn Mẹ đồng công với Con
trong mọi đau khổ Con chịu, vì Con sẽ chịu đau khổ trong Con Người mà Mẹ đã cho Con”.

Sau những lời rất êm dịu đó. Người Con yêu
đương nhất trong các người con ôm hôn Người Mẹ xứng đáng nhất trong các người Mẹ; cả hai
cùng châu lệ chứa chan. Mẹ Maria vừa khóc vừa quì xuống trước mặt con Mẹ đang cảm động mà
nói: “Con biết rồi, giá Mẹ được chết một nghìn lần để giữ cho Con khỏi chết, hạnh phúc cho
Mẹ biết bao! Nhưng thánh ý Cha hằng hữu đã muốn Con phải chết, xin Con cho Mẹ được cộng
khổ với cuộc Tử Nạn của Con. Nếu để Con Mẹ phải chịu chết một mình, còn có đau khổ nào
hành hạ Mẹ hơn được!”

Sau đó, Chúa Giêsu từ biệt Mẹ Maria để đi cho
ông Gioan rửa, rồi rút lui vào rừng vắng. Hai Mẹ Con cùng dìu nhau ra tới cửa của ngôi nhà
nghèo nàn. Một lần nữa, Mẹ quì gối trước mặt Chúa xin phép lành và hôn chân Chúa. Không
thể nào tả được hết nỗi niềm đau đớn xâu xé lòng Chúa và Mẹ trong lúc ấy.

 

Lời Mẹ nhắn nhủ:


Hỡi con, người công giáo thường nghĩ đến cuộc
Tử Nạn của Con chí thánh Mẹ, vì Giáo Hội vẫn luôn luôn nhắc nhở cho họ. Nhưng họ không
nghĩ được rằng Con Mẹ đã không bỏ qua một giây phút nào trong đời Người mà không nghĩ đến
họ, sự tận tâm liên tục của Người sẽ lên án thói vong ân qúa cứng lòng của họ. Chính vì sự
vong ân này đã kéo theo biết bao nhiêu tai nạn lên xã hội, đã làm hư mất biết bao nhiêu
người mà lẽ ra con phải đau đớn chết đi được vì họ hư mất như vậy, nếu con đã đào sâu và
hiểu thấu chân lý đáng sợ ấy. Họ lại không đáng tội hơn những người Do thái từng giết
Thiên Chúa, những người mặc dầu đã chứng kiến bao nhiêu phép lạ, cũng vẫn không tin, hoặc
hơn những người ngoại giáo không biết Chúa đó ư?
Tại sao, đáng lẽ phải phó mình cho Thiên Chúa là Đấng họ biết có lòng nhân từ vô cùng, họ
lại đi phó mình cho Luxiphe là kẻ thù quyết tử của họ, mà xử hung ác với chính mình họ như
vậy? Theo mưu quỉ xuí giục, họ đã bẻ gẫy  tất cả những vòng nhân đức, dung túng cho
những khoái lạc thú vật, dùng đời sống của họ để đuổi bắt ảo ảnh và rồi rơi xuống hoả ngục
đời đời.


Thế mà trái lại, bổn phận con cái Giáo Hội
là: phải hết sức trung thành với Chúa Cứu Chuộc mình, Đấng mà họ thường chiêm ngắm hình
ảnh đẫm máu biết bao! Con hãy mến yêu thánh giá
như Gioan Tiền hô đã yêu, và con cũng hãy yêu thích vắng lặng như ông. Con hãy cố đem hết
khả năng xa tránh tiếng ồn ào của thụ tạo; và, nếu cưỡng bách phải truyện vãn với nó, con
hãy làm thế nào để nêu gương sáng xây dựng nó.


Nhất
là con phải noi gương Chúa Giêsu Tử Giá.
Chính vì muốn nên giống Người, mà Mẹ đã
khẩn khoản xin Người cho Mẹ được đồng công vào hết những đau khổ Người chịu trong cuộc Tử
Nạn, và cất đi khỏi Mẹ những ngọt ngào bên trong hay những yêu chiều của tình con thảo.
Người đã bằng lòng ban cho Mẹ như lời Mẹ xin. Từ đó, Người không ban ơn an ủi cho Mẹ nữa,
và xử với Mẹ một cách nghiêm nghị rõ rệt. Chính vì thế mà ở tiệc cưới Cana, Người đã không
gọi là Mẹ.


Hầu như hết mọi người đều mù tối kinh tởm
tránh xa con đường thánh giá.  Đau khổ là
phương dược, là sự đền bù tội lỗi họ phạm . Có chịu đau khổ, người ta mới trị được những
nổi loạn của dục tình, mới khuất phục được xác thịt, đập tan được kiêu ngạo, chán ngán
được trần tục, khát vọng được trời cao và lôi kéo được tình Chúa xót thương yêu dấu.


Con
hãy tránh xa những an ủi của loài người.
Hãy chiêm ngắm những vẻ đẹp của Thiên Chúa
là việc rất êm ngọt, nhưng nếu đức ái, đức tuân phục và những điều hợp lẽ đòi họ phải bận
bịu với những việc khác cho tha nhân, con cũng phải tự tình rời bỏ sự cô tịch và những 
khoái thú của nó. Ngoài ra, việc nào mà chả có Thiên Chúa ở đó?

Comment của bạn

avatar
  Subscribe  
Notify of