CÁC
MỐI TƯƠNG QUAN VÀ CÁC GIÁ TRỊ CỦA GIA ĐÌNH

THEO
KÍNH THÁNH

 

Bài nói chuyện của tôi chia làm 3 phần.Trong
phần thứ nhất, tôi sẽ xin minh hoạ kế hoạch khởi thủy của Thiên Chúa trên Hôn
Nhân và Gia Đình và cách thức mà kế hoạch nầy được thực hiện trong lịch sử dân
Israel. Trong phần thứ hai,tôi sẽ xin nói về việc tóm tắt do
Chúa Kitô thực hiện và về cách thức việc nầy đươc giải thích và được sống trong
lòng cộng đồng Kitô giáo Tân Ước. Trong phần thứ ba, tôi sẽ cố gắng xem xét
những gì mạc khải Kinh Thánh có thể mang lại giải đáp cho những vấn đề hiện nay
về Hôn Nhân và Gia Đình.

 

PHẦN THỨ HAI

 

HÔN NHÂN VÀ GIA
ĐÌNH TRONG TÂN-ƯỚC

 

1. TÓM TẮT HÔN NHÂN
TRONG CHÚA KITÔ

  
Thánh Irênê giảo thích “sự tóm tắt mọi sự nầy – anakephalaiosis” được thực hiện trong Chúa Kitô (Ep 1,10) như là một
“lấy lại mọi sự từ đầu để dẫn chúng tới sự thành toàn của chúng”. Khái niệm nầy
bao hàm đồng thời một tính liên tục và một tính mới lạ khi có liên quan đến hôn
nhân, được thực hiện một cách gương mẫu trong công trình của Chúa Kitô.

 

 

1.1 Tính liên tục

 

Chương 19 Phúc Âm theo Thánh
Matthêu tự nó cũng đã đủ để minh hoạ hai khía cạnh của viêc tóm tắt nầy. Trước
hết chúng ta hãy xem Chúa Giêsu lấy lại mọi sự từ khởi đầu như thế nào.

“Những người Biệt phái đến gần Người
và hỏi Người để thử thách Người : “Có được phép rẩy vợ mình vì bất kỳ lý do gì
chăng?” .Người đáp  :”Các ông đã không đọc
thấy rằng Đấng Tạo Hoá,ngay từ khởi thủy, đã dựng nên họ người nam và người nữ
[St 1,27] và Chúa nói với họ : Vì thế người nam sẽ bỏ cha mẹ mình để gắn bó với
vợ mình và cả hai chỉ còn là một xác thịt duy nhất,sao? [ St 2,24]. Ví vậy họ
không còn là hai, nhưng là một huyết nhục mà thôi. Vậy thì! Sự gì Thiên Chúa đã
kết hợp, con người không được tách nó ra” (Mt 19, 3 – 6).

Chúa Giêsu trả lời cho các đối thủ
vốn chỉ biết suy luận trong lãnh vực bị bó hẹp của một khoa ngụy biện thuộc trường
phái (quanh quẩn ở việc có được phép rẩy vợ mình vì bất cứ lý do gì hay là vần
phải có một lý do rõ ràng và nghiêm túc) bằng việc lấy lại vấn đề ở gốc rễ, từ
khởi đầu. Trong các trích dẫn của Người, Chúa Giêsu tham chiếu hai trình thuật
về việc thiết lập hôn nhân, lấy các yếu tố của cả trình thuật nầy lẫn trình thuật
khi và khởi từ đó, như chúng ta đã thấy, Người đưa ra ánh sáng khía cạnh hiệp
thông  những con người.

 Bản văn tiếp theo, về vấn đề ly dị, cũng đi
theo chiều hướng nầy. Chúa Giêsu tái khẳng định sự trung thành và sự không thể
phân ly của mối dây liên kết hôn nhân, vượt qua cả thiện ích của lời mà qua đó
chế độ đa thê và ly dị đã được biện minh trong quá khứ.

Những người Biệt-phái bắt bẻ Người
:”Tại sao Ông Môsê đã truyền dạy cấp giấy ly dị mà rẫy vợ – Người bảo họ :”Vì các
ông lòng chai dạ đá,nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu
không phải như vậy. Tôi nói cho các ông biết : ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất
hợp pháp, ai rẫy vợ mình mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình” (Mt 19, 7 –
9).

 Bản văn song song của Mác-cô cho thấy làm sao,
theo Chúa Giêsu, trong trưìơng hợp ly dị, người nam và người nữ được đặt trên một
bình diện bình đẳng tuyệt đối :” Ai rẫy vợ mình và cưới một phụ nữ khác làm vợ,
thì phạm tội ngoại tình với vợ mình; va nếu một người vợ ly dị chồng mình và lấy
một người khác làm chồng, thì người nữ đó phạm một tội ngoại tình”.

Tôi không ngừng lại ở câu “ngoại
trừ khi phạm tội ngoại tình” (porneia)bởi vì như mỗi người đều biết, các Giáo Hội
Chính Thống và Tin Lành giải thích câu nầy một cách khác biệt với Gíao Hội Công
giáo. Đúng ra phải nhấn mạnh “nền tảng bí tích mặc nhiên của hôn nhân” đựôc trình
bày trong câu trả lời của Chúa Giêsu. Những lời “điều gì Thiên Chúa đã kết hợp”
khẳng định rằng hôn nhân không phải à một thực tại đơn thuần thế tục chỉ do kết
quả ý muốn của con người. Ở đây có một chiều kích linh thánh đi lên tận đến Thánh
ý Chúa.

Việc nâng hôn nhân lên hàng “ bí
tích’ do vậy không dựa trên lý lễ yếu ớt về sự hiện diện của Chúa Giêsu tại tiệc
cưới Cana và trên đoạn 5 thư gửi tín hữu Êphêsô. Một cách nào đó nó bắt đầu với
Chúa Giêsu ở dưới đất. Đức giáo hàong Gioan-Phaolô II có lý khi Người định nghĩa
hôn nhân “là bí tích cũ xưa nhất”.

 

1.2 Nét mới mẻ.

 Cho tới nay, chúng ta đã gợi lên tính liên tục.
Nhưng tính mới lạ thì gồm những gì vậy? Một cách nghịch lý, sự mới lạ hệ tại ở
sự tương đối hoá hôn nhân. Hãy cùng nghe bản văn của Thánh Mat-thêu sau đây:

“Các môn đệ nói với Người : “Nếu
làm chồng mà phải như thế đối với vợ,thì thà đừng lấy vợ còn hơn”. Người nói với
họ :”Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy,nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa
cho hiểu,mới hiểu được. Quả vậy,có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng
mẹ họ đã không có khả năng; có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn;lại
có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 19,
10 12).

Qua những lời nầy,Chúa Giêsu thiết
lập một trạng thái cuộc sống thứ hai,biện minh cho nó bằng việc Nươc Trời đến
trên trần gian. Điều nầy không thủ tiêu khả năng kia,- hôn nhân- nhưng tương đối
hoá nó.. Điều nầy xảy ra giống như ý tưởng quốc gia trong lãnh vực chính trị :
nó không bị bải bỏ,nhưng được tương đối hoá một cách căn bản trong việc mạc khải
sự hiện diện cùng thời,trong lịch sử, của một vương quốc Thiên Chúa.

Để được công nhận có giá trị, sự
tiết dục tự nguyện do vậy không cần người ta phải phủ nhận hoặc coi thường hôn
nhân (một  số tác giả xưa,trong các bài
viết  về đức trinh khiết, đã rơi vào sai
lầm nầy). Đức trinh khiết,trái lại, chỉ có ý nghĩa nhờ sự khẳng định đồng thời
của sự thiện hảo hôn nhân. Việc thiết lập luật độc thân và  đức trinh khiết vì Nước Trời làm tăng giá trị
hôn nhân,vì nó làm cho hôn nhân trở thành một chọn lựa,một ơn gọi chứ không còn
chỉ là một nghĩa vụ đạo đức luân lý, mà ở [xã hội] Israel không ai được miễn trừ
mà lại không bị tố cáo là vi phạm giới răn Đức Chúa Trời.

 Cần phải lưu ý một điều mà người ta thừơng hay
quên. Luật độc thân và đức trinh khiết có nghĩa là từ bỏ hôn nhân, chứ không phải
là từ bỏ giới tính vẫn luôn mang đầy ý nghĩa phong phú, ngay cả khi giới tính được
sống thao cách khác. Người nam nào đã chọn sống độc thân và ngừơi nữ nào đã chọn
sống trinh khiết cũng trải nghiệm được nét quyến rủ và do vậy trải nghiệm đựơc
sự phụ thuộc  so với giới kia và chính đó
là cái làm cho sự chọn lựa đức khiết tịnh của họ có ý nghĩa và chính vì thế mà
nó qúy giá.

 

 

1.3 Chúa Giêsu, kẻ thù của gia đình?

 

Giữa nhiều luận điểm được đưa ra
những năm gần đây nhất trong lãnh vực “nghiên cứu thứ ba về Chúa Giêsu lịch sử”,
có luận đề về một Giêsu được coi là đã rẩy bỏ gia đình tự nhiên và tất cả mọi
liên hệ thân thích họ hàng của Người, lấy danh nghĩa là đã thuộc về một cộng đồng
khác biệt, nơi đó Thiên Chúa là Cha và các môn đệ tất cả đều là anh chị em, đề
ra cho các môn đệ Người một cuộc đời nay đây mai đó, giống như cácc triết gia
phái khuyển nho cũng làm như vậy bên ngoài Israel.

Thoạt nhìn đã thấy có những lời nói
gây bối rối  trong các Phúc Âm. Chúa Giêsu
đã nói :”Ai theo Ta mà không ghét cha,mẹ,vợ con,anh chị em và cho đến cả mạng sông
mình, thì không thể làm môn đệ của Ta” (Lc 14,26). Những lời nói cứng rắn hết sức
ấn tượng, chắc chắn rồi, nhưng thánh sử Matthêu vội  vàng giải thích ý nghĩa của từ “ghét” : “Ai yêu
mến cha hoặc mẹ mình hơn Ta,thì không xứng vớiTa. Ai yêu con trai hoặc con gái
mình hơn Ta,thì không xứng với Ta” (Mt 10,37). Chúa Giêsu do vậy không đòi phải
ghét cha mẹ hoặc con cái, nhưng là không được yêu mến hơn đến mức từ chối đi
theo Người vì họ.

Một đoạn khác gây bối rối. Một hôm
Chúa Giêsu nói với một người : “Hãy theo Ta”. Ngừơi ấy thưa :”Cho phép con trước
hết đi chôn cất cha con đã”.Nhưng Người nói với ngừơi ấy :”Hãy để kẻ chết chôn
người chết của họ; còn anh, anh hãy đi loan báo Nước Thiên Chúa” (Lc 9,59 tt). Đối
với một số người chỉ trích, trong đó có gíao sĩ Do Thái người Mỹ Jacob Neusner
mà Đức Biển Đức XVI đối thoại với ông trong cuốn sách Chúa Giêsu Nazaret của Người, thì đó là một đòi hỏi xúc phạm, một sự
không vâng lời Thiên Chúa là Đấng ra lệnh chăm sóc cha mẹ, một vi phạm hiển nhiên
các bổn phận gia đình.

Người ta có thể đồng ý một điều với
giáo sĩ Neusner : những lời nầy của Chúa Kitô không giải thích được nếu người
ta chỉ coi Người như một con người, dù là ngừơi ngoại lệ. Chỉ có Thiên Chúa mới
có thể đòi hỏi người ta yếu mến Người hơn là một người cha và rằng để đi theo
Người, người ta còn phải từ bỏ cả việc có mặt dự chôn cất người đó. Đối với các
tín hữu, thêm một  bằng chứng cho thấy Chúa
Giêsu là Thiên Chúa; với Neusner, đó là lý do khiến người ta không thể đi theo
Người.

Trước những đòi hỏi nầy của Chúa
Giêsu, sự bối rối cũng phát sinh từ sự việc người ta không để ý đến sự khác biệt
giữa những gì Người đòi hỏi nơi mọi người một cách không rõ ràng phân biệt và
những gì Người chỉ đòi hỏi nơi một số người được gọi để chia sẻ đời sống trọn
hiến cho Nước Trời, như vẫn còn xảy ra ngày nay trong Giáo Hội. Người ta cũng
phải nói điều tương tự về việc từ bỏ hôn nhân : 
Người không áp đặt đềiu nầy và không đề nghị với mọi người không ph6n biệt,
nhưng chỉ đề nghị với những ai chấp nhận nên giống như Người, phục vụ trọn vẹn
Nước Trời (x. Mt 19,10 12).

 Tất cả những nghi ngờ về thái độ của Chúa Giêsu
đối với gia đình và hôn nhân rơi rụng,nếu chúng ta để  ý đến những đoạn Phúc Âm khác. Chúa Giêsu là
người nghiêm khắc nhất trong hêt mọi ngừơi về những gì liên quan đến sự không
thể chia lìa của hôn nhân và nhắc nhở mạnh mẽ điều răn tôn kính cha mẹ mình. Người
lên án việc viện cớ tôn giáo mà không thực hành bổn phận giúp đỡ cha mẹ (x. Mc
7, 11 – 13). Biết bao phép lạ Chúa Giêsu đã thực hiện để làm dịu đau khổ của các
ông bố  (ông Gia-irô, ông bố người bất toại),
của các bà mẹ (phụ nữ xứ Canaan,bà goá Naim) hoặc của các người anh và các bà
chị (các chị của Lazarô) và do vậy, để tôn vinh những mối liên hệ họ hàng thân
thuộc. Hơn một lần, Người chia sẻ đau khổ của các bậc cha mẹ đến nỗi khóc cùng
họ.

 

Ở một thời đại như ngày nay khi mà
mọi sự dường như muốn làm suy yếu các mối liên hệ và các giá trị gia đình, chỉ
còn thiếu một nỗi là Chúa Giêsu và Phúc Âm liên minh nhau chống lại gia đình! Chúa
Giêsu đến đem lại cho hôn nhân vẻ đẹp nguyên thủy, để củng cố hôn nhân,chứ không
làm nó suy yếu.

 

 

2. HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG GIÁO HỘI THỜI CÁC TÔNG ĐỒ

 

Như chúng ta đã làm đối với kế hoạch
nguyên thủy của Thiên Chúa và về sự tóm tắt do Chúa Kitô thực hiện, bây giờ chúng
ta hãy tìm xem có được đón nhận và sống thế nào trong cuộc sống và trong giảng
dạy giáo lý của Giáo Hội, được gắn liền lúc nầy với Giáo Hội thời các tông đồ. Ở
đây Thánh Phaoô là nguồn thông tin chính cho chúng ta, bởi vì Ngài đã phải đương
đầu vơi vấn nạn nầy trong một số thư của Ngài,nhất là trong thư thứ nhất gửi tín
hữu Côrintô.

Thánh Tông Đồ phân biệt những gì đến
trực tiếp từ Chúa Giêsu,từ những áp dụng đặc biệt mà Ngài làm trong bối cảnh mới
mà Phúc Âm được rao giảng. Trong trường hợp thứ nhất, chính tính chất không thể
phân ly của hôn nhân được đề cập :”Còn với những ngừơi đã kết hôn,tôi ra lệnh nầy,
không phải là tôi,mà là Đức Chúa : vợ không được bỏ chồng;mà nếu đã bỏ chồng,thì
phải ở độc thân hoặc phải làm hòa với chồng; và chồng cũng không được rẫy vợ”
(I Cor 7,10 11). Trong trường hợp thứ hai, chúng ta nhìn thấy những cỉ dẫn Ngài
ban khi có hôn nhân giữa ngừơi có Đạo và người ngoài Đạo; và những bố trí liên
quan đến những người sống độc thân và trinh nữ :”Còn với những người đã kết hôn,v..v…Vế
vấn đề độc thân,v..v…” (x. I Cor 7,10 – 11 ;I Cor 7,25). Từ thời Chúa Giêsu,
Giao Hội thời các Tông Đồ cũng đã tiếp nhận một sự mới mẻ, như chúng ta đã thấy,
hệ ở sự thiếp lập một tình trạng đời sống thứ hai : Độc thân và trinh khiết vì
Nước Trời. Với những người ấy, Thánh Phaolô – bản thân Ngài cũng không lập gia đình
– dành phần cuối chương 7 thư của Ngài. Căn cứ vào câu :”Tôi mong ước mọi người
đều như tôi;nhưng mỗi người đón nhận từ Thiên Chúa đặc sủng riêng,kẻ thế nầy,người
thế khác” (I Cor 7,7), một số người  nghĩ
rằng Thánh Tông Đồ xem hôn nhân và sự tring khiết như hai đặc sủng. Không đúng
như vậy! Các trinh nữ đã đón nhận đặc sủng đức trinh khiết, còn những người vợ
chồng có được những đặc sủng khác (hiểu ngầm : không phải là đặc sủng đức trinh
khiết). Thật có ý nghĩa khi thần học Giáo
Hội luôn coi đức trinh khiết như một đặc sủng, chứ không phải là một bí tích và
coi hôn nhân như một bí tích, chứ không phải là một đặc sủng.

 Văn bản thư gửi tín hữu Êphêsô có một trọng lượng
đáng kể trong tiến trình sẽ dẫn tới (khá lâu sau đó) việc công nhận tính chất bí
tích của hôn nhân :”Chính vì vậy ngừơi đàn ông sẽ lìa cha mẹ để gắn bó với vợ mình;
và cả hai sẽ thành một xương một thịt: Mầu Nhiệm nầy thật cao cả: tôi muốn nói
về Đức Kitô và Hội Thánh” (Ep 5, 31 – 32). Đây không phải là một lời khẳng định
đơn độc hoặc ngẫu nhiên,do việc dịch không rõ ràng từ “mầu nhiệm” (mysterion)
sang tiếng la-tinh bí tích (sacramentum).
Hôn nhân như biểu tượng quan hệ giữa Chúa Kitô và Giáo Hội đặt nền tảng trên toàn
thể một loạt những lời được loan báo và những dụ ngôn, trong đó Chúa Giêsu đã áp
dụng cho chính mình danh hiệu hôn phu, mà các tiên tri đã gán cho Thiên Chúa.

Trong khi công đồng Công giáo lớn
lên và dần dà nên vững chắc, người ta thấy triển nỡ cả một mục vụ và một linh đạo
về gia đình. Những văn bản ý nghĩa nhất cho chủ đề nầy là các thư gửi tín hữu Côlôsê
và Êphêsô. Hai mối quan hệ căn bản cấu thành gia đình được đưa ra ánh sáng ở
trong hai thư ấy : tương quan vợ – chồng và tương quan cha mẹ – con cái. Về tương
quan thứ nhất [ vợ – chồng], Thánh Tông Đồ viết: “Vợ chồng hãy phục tùng nhau
trong sự kính sợ Chúa Kitô. Ước gì người vợ phụ tùng người chồng như Giáo Hội
phục tùng Chúa Kitô;các bà vợ cũng phải phục tùng các người chồng trong mọi sự.
Hỡi những người chồng, hãy yêu thương vợ mình như Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội
: Người đã phó nộp mình vì Giáo Hội”.

Thánh Phaolô nhắn nhủ người chồng
“yêu thương” vợ mình ( điều nầy bình thường với chúng ta), nhưng tiếp sau đó Ngài
nhắn nhủ người vợ “phục tùng”chồng mình và đềiu ấy dường như không thể chấp nhận
được trong một xã hội ý thức mạnh mẽ về sự bình đẳng giữa các giới. Về điểm nầy,
Thánh Phaolô, ít là một phần, chịu ácc đềiu kiện tập tục thời đại Ngài sống.  Dù vậy cũng phải xem lại khó khăn nầy bằng vệic
lưu ý tới câu ở đầu thư : “Vì lòng tôn kính Chúa Kitô, hạy phục tùng lẫn nhau”,
thiết lập một tương quan lẫn nhau trong sự phục tùng cũng như trong tình yêu.

Về mối tương quan cha mẹ – con cái,
Thánh Phaolô nhắc lại những lời khuyên răn truyền thống của văn chương sách khôn
ngoan :” Hỡi con cái, hãy vâng lời cha mẹ, trong Đức Chúa: đó là đìêu ch1inh đáng.
Hãy tôn vinh cha ngươi và mẹ ngươi. (Cn 6,20), đó là giới răn đầu tiên nối liền
với một lời hứa : để ………(Xh 20,12). Hỡi các bậc làm cha làm mẹ, đừng làm cho
con áci tức giận;nhưng hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và
sửa dạy” (Ep 6, 1 – 4).

Các thư mục vụ, đặc biệt là Thư gửi
Titô, cho thấy những chi tiết cho mỗi phạm trù những con người :những người vợ,những
người chồng, các giám mục và linh mục, những người cao tuổi, những thanh thiếu
niên, các bà goá, các ông chủ, những người nô lệ ( x. Tt 2, 1 – 9).Quả thật,
ngay cả các nô lệ cũng làm thành phần gia đình trong quan niệm mở rộng về gia đình.

 

Ngay cả trong Giáo Hội tiên khởi,
lý tưởng hôn nhân được Chúa Giêsu đề xuất lại, sẽ không được thực hiện mà không
gặp những bóng tối hoặc chống cự. Nhu cầu mà các Tông Đồ cảm nhận phải nhấn mạnh
lên khía cạnh nầy của cuộc sống Kitô giáo làm chứng cho điều ấy, tất nhiên không
tính đến trường hợp loạn luân ở Côrintô (x. I Cor 8,1 tt). Nhưng xét tổng thể, các
Kitô hữu đã giới thiệu cho thế giới một kiểu mẫu gia đình mơi tỏ cho thấy đó là
một trong những nhân tố công cuộc rao giảng Tin Mừng.

 
Tac giả thư gửi Diognète ở thế kỷ thứ 2 khẳng định rằng các Kitô-hữu “lập
gia đình như mọi người, cũng có con cái,nhưng không bỏ rơi con cái mới sinh của
họ. Họ chia sẻ cùng một bàn ăn,nhưng không chung một giường nằm” (V, 6 – 7).
Trong cuốn Apologies, Justin đưa ra lý
lẽ rằng chúng ta,các Kitô hữu ngày nay,lẽ ra pảhi có thể đối thoại với các nhà
cầm quyền chính trị. Ông nói như sau : Các Ngài, hỡi những hoàng đế La Mã, các
Ngài nhân lên các luật lệ về gia đình,nhưng chúng chio thấy không hiệu quả để
tránh cho gia đình đổ vỡ. Hãy đến mà xem gia đình của chúng tôi và  các Ngài sẽ xác tín rằng Kitô hữu là những đồng
minh tốt nhất của cuộc cải cách xã hội,chứ không phải là kẻ thù của các Ngài. Kết
thúc,sau ba thế kỷ bách hại, vị hoàng đế đã tiếp nhận kiểu mẫu Kitô giáo về gia
đình trong luật pháp của ông.

 

THUYẾT-TRÌNH VỀ GIA ĐÌNH CỦA CHA RANIERO CANTALAMESSA

Đại Hội Thế Giới Lần thứ VI về Gia Đình (Mexico 14.01.2009)

 

(còn tiếp một kỳ)

 

Mục Lục

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây