BÀI 13

PHẦN TU ĐỨC

ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN MÔN ĐỆ: NĂNG ĐỘNG TRONG
THÁNH THẦN

 

Cộng đoàn môn đệ Đức Giêsu được dựng xây theo tầm nhìn và sứ mạng của Đấng
Phục Sinh (Lc 24,35). Trong tầm nhìn ấy, thánh sử Lu-ca nhìn lễ hội mùa gặt,
sau này Do Thái giáo đồng hóa lễ hội này với Giao Ước Sinai, như khởi đầu của
Giao Ước mới với việc Thánh Thần hiện xuống trên Giáo Hội. Cộng đoàn tề tựu với
nhau, cùng Đức Maria, đón nhận Thánh Thần hiện diện và hoạt động nơi cộng đoàn
(Cv 1,14; 2,2-4). Thánh Thần hiệp nhất cộng đoàn, biến đổi cộng đoàn, và hướng
dẫn cộng đoàn tiếp nối sứ mạng loan báo Tin mừng (Cv 2,36-42). Là môn đệ Đức
Giêsu, chúng ta không chỉ được qui tụ để ở lại với Chúa và với nhau, nhưng còn
để được Người sai đi thi hành sứ mạng (Mc 3,14-15). Trong tầm nhìn của cộng
đoàn môn đệ Đấng Phục Sinh, trình thuật lễ Ngũ Tuần cho thấy hình ảnh khởi đầu
cũng là hình ảnh sống động của cộng đoàn môn đệ trong thực tế, một cộng đoàn
năng động trong Thánh Thần (Cv 2,1-11).

 

Thánh Phao-lô cho thấy đời sống cộng đoàn môn đệ Đấng phục sinh trở nên
phong phú như thế nào nhờ Thánh Thần. Nhờ Thánh Thần, các môn đệ được củng cố
đức tin: “Đức tin của anh em mới không dựa vào lời lẽ khôn ngoan người phàm,
nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa
” (1Cr 2,5). Nhờ thánh thần, các môn đệ
đón nhận tính cách làm con Thiên Chúa (Gl 4,4-6), không chỉ theo tình trạng lề
luật nhưng còn thấm sâu vào ý thức của chúng ta, làm cho chúng ta có thể kêu
lên: “Abba, lạy Cha của chúng con” (Rm, 12-17). Nhờ Thánh Thần, cộng
đoàn môn đệ hiệp nhất trong khác biệt: “chỉ có một thân thể và một Thánh
Thần
” (Ep 4,3-6). Nhờ thánh thần, một cộng đoàn non trẻ ở Antiokia cũng đã
có thể dấn thân thi hành sứ mạng loan báo Tin mừng: “Một hôm, đang khi họ
làm việc thờ phượng Chúa và ăn chay, thì Thánh Thần phán bảo
: ‘Hãy dành
riêng Banaba và Saolô cho Ta, để lo công việc Ta đã kêu gọi hai người ấy làm
’”
(Cv 13,2).

 

Thánh Thần vun đắp sự hiệp nhất của Giáo Hội bằng sự phong phú của những ân
huệ thiêng liêng vốn được ban một cách tự do cho tất cả mọi thành viên cộng
đoàn: “Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung” (1
Cr 12, 4-13). Ngài bảo đảm vận mệnh và sứ mạng người môn đệ Đức Giêsu. Trên
hành trình đạt tới vận mệnh sau cùng của chúng ta và trong sự thử thách liên
tục giữa ân sủng và tội lỗi trên thế gian và trong tâm hồn chúng ta, Chúa Thánh
Thần là “bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta, chờ ngày dân riêng của
Thiên Chúa được cứu chuộc, để ngợi khen vinh quang Thiên Chúa
” (Ep 1,
11-14). Có thể nói, mọi năng động hiện diện và hoạt động của Giáo Hội đều được
đánh dấu bởi những thúc đẩy của Chúa Thánh Thần.

 

Trong tầm nhìn của cộng đoàn môn đệ Đấng Phục Sinh, chúng ta là chứng nhân
của niềm hy vọng, không chỉ trong nhận thức hay cảm nghĩ, mà còn trên nét mặt,
trong cung cách ứng xử và đời sống. Hơn thế nữa, là thành viên Hội đồng mục vụ
giáo xứ, những người phục vụ cộng đoàn trong năng động của Thánh Thần, chúng ta
không thể là môn đệ Đức Giêsu theo kiểu hay càm ràm, buồn rầu và thất vọng, với
bộ mặt đưa đám như hai môn đệ trên đường Emmaus trước khi gặp Đấng Phục Sinh.
Trái lại, là người được củng cố niềm tin nhờ gặp gỡ Đấng Phục Sinh, chúng ta
được mời gọi làm cho anh chị em mình nên vững mạnh, như thánh Phê-rô (Lc
22,31-32), bằng cách hiện diện giữa cộng đoàn với niềm tin yêu, kể lại chuyện
đời môn đệ của mình với niềm hy vọng, và phục vụ cộng đoàn với niềm hân hoan.

 

Hồi tâm.

1.  
Là thành viên
Hội đồng mục vụ giáo xứ, tôi thường gặp khó khăn thách đố ở đâu-với ai-khi làm
việc gì?

2.  
Tôi thường
cảm nghĩ và phản ứng như thế nào khi gặp tình huống khó khăn: càm ràm, than
trách, đổi lỗi cho người khác, biện minh cho mình,…?

3.  
Niềm tin vào
Đấng Phục Sinh soi sáng cho tôi như thế nào khi gặp tình huống cần hòa giải và
xây dựng hòa bình, khi có căng thẳng giữa các thành viên Hội đồng mục vụ giáo
xứ,..?

Lm Toma Vũ Ngọc Tín.SJ.

 

PHẦN QUẢN TRỊ MỤC VỤ

UỐNG NỔI…

“Đức Giê-su bảo: ‘Các người không biết
các người xin gì! Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không?’ Họ đáp:
‘Thưa uống nổi’”. (Mt 20,22)

Dẫn vào

Thỉnh thoảng ai đó bị (hoặc “được”) coi là “Uống như hũ chìm”,[1] người
nghe có thể nghĩ hình tượng đến tiếng nước tràn vào lòng một cái hũ không nào
đó đang tròng trành trong nước, bị uống nước cho đầy, rồi chìm, chìm nghỉm;
đồng thời, người nghe cũng có thể nghĩ đến hình tượng một tay nát rượu, “cao
khẩu rượu” nào đó: đang nốc ừng ực những rượu là rượu, trong rượu ngoài rượu,
chìm ngập trong bể rượu.[2] Tuy
nhiên, hũ chìm, uống chìm… khác với “uống nổi” của tựa đề bài viết ra sao?

 

Đức Giê-su bảo: “Các người không biết
các người xin gì! Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không?” Họ đáp:
“Thưa uống nổi”.[3]

 

Không biết các người xin gì

Nhờ mẹ của mình đến xin cho bằng được hai vị trí cao trọng trong “vương
quốc” mà Chúa Giê-su sắp thiết lập: “Xin Thầy truyền cho hai con tôi đây,
một người ngồi bên hữu, một người bên tả Thầy trong Nước Thầy”,[4] Gia-cô-bê
và Gio-an cam kết sẽ “uống nổi” chén Thầy Giê-su sắp uống. Tuy nhiên, quá chủ
quan, các ông không biết chén Thầy Giê-su sắp uống là chén gì. Các ông không
biết các ông đang xin gì. Cũng là con người với tính ham mê quyền lực, các ông
cam kết đại, các ông hứa uống đại, uống bừa, “uống như hũ chìm”. Trong khi đó,
“uống nổi” chén Thầy Giê-su sắp uống chắc chắn là “không nổi” – có chăng chỉ là
“chìm” – trừ phi có ơn riêng Chúa ban.

 

Mục vụ xứ đạo của quý chức hội đồng, hội đoàn giáo xứ đôi khi cũng bị cám
dỗ, hoặc bị lâm vào hoàn cảnh khó khăn như thế, bởi vì quá chủ quan, hoặc bởi
không thực sự biết mình đang làm gì, xin gì. Có khi chúng ta chỉ biết những
điều rất phụ tùy, những điều chẳng những không có lợi mà còn có hại cho sự sống
đích thực của tâm hồn! Có bao giờ trong nỗ lực sống và loan báo Tin Mừng, chúng
ta xin ơn dấn thân vì yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, hết trí
khôn? Có bao giờ chúng ta xin ơn yêu thương người khác như chính mình? Bởi lẽ,
nếu điều răn thứ nhất “yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí
khôn” là giới răn quan trọng nhất thì điều răn thứ hai, cũng giống vậy: yêu
người thân cận như chính mình.

 

“… trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào
là điều răn trọng nhất?” Đức Giê-su đáp: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên
Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn
quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn
ấy, là: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Mô-sê và các
sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy”.[5]

 

Vậy, chúng ta có sẵn lòng dâng lên Chúa những hy sinh là lòng bác ái, bao
dung, tha thứ và sẵn sàng làm việc, phục vụ vì danh Cha cả sáng, nước Cha trị
đến…, chúng ta có thật sự muốn “uống nổi” chén Thầy Giê-su đã uống?

 

Uống nổi chén Thầy sắp uống

A hỏi B: “Nếu bước lên trước một bước là tử, lùi lại một bước là vong, anh
nghĩ anh sẽ làm thế nào?” B trả lời không chút do dự: “Mình sẽ bước sang bên
cạnh để đi”. Ra thế, khi cố đấm ăn xôi, khi cương quyết làm điều mình không
biết thì ai đó có thể cũng giống tâm trạng của Gia-cô-bê và Gio-an, quả quyết
sẽ “uống nổi” chén Thầy mình sắp uống mà không hề biết chén ấy là chén gì.[6] Vậy
ra, khi gặp khó khăn, không có nghĩa là cùng đường, hãy đổi góc nhìn, hãy đi
con đường bên cạnh, trừ phi đó là con đường phải đi: con đường Chúa cương quyết
đi để lên Giê-ru-sa-lem…: con đường Tử Nạn-Phục Sinh. Và nếu được như vậy,
chúng ta sẽ “… thấy trời mới đất mới… và thành thánh là Giê-ru-sa-lem mới…”.[7]

 

Vâng, hoặc đi sang bên cạnh khi còn đường đi, hoặc cương quyết phải đi khi
đó là con đường Chúa muốn ta đi. Trong cả hai trường hợp, cần làm theo ơn soi
sáng của Thánh Thần: không cố đấm ăn xôi, không cương quyết làm điều mình không
biết. Vậy hãy nhớ,

 

Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh
Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy
tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê-a, và cho đến tận cùng trái đất.[8]

 

Theo đó, các thành viên hội đồng, hội đoàn giáo xứ được quyền lãnh nhận
những thiện ích tinh thần của Giáo hội, là sự hướng dẫn của lời Chúa với ân
sủng của bí tích. Như thế, mọi Ki-tô hữu không những có thể mà còn cần được
chuẩn bị cách thích ứng, và tất cả đều được mời gọi cách tha thiết để sống dồi
dào tinh thần cùng nhau tham gia tích cực vào công việc bổn phận hằng ngày là
phụng sự Thiên Chúa và phục vụ anh chị em đồng loại.[9]

 

Thiên Chúa là Đấng trung thành, Người đã
kêu gọi anh em đến hiệp thông với Con của Người là Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng
ta.[10]

 

Câu hỏi giúp thảo luận

1.  
“Anh em hãy ở
lại trong tình thương của Thầy”.[11] Vậy,
nếu thích ngồi bên tả, bên hữu của Đức Ki-tô Giê-su, bạn có ngại uống chén đắng
mà Thầy mình đã uống? Ở mức độ nào?

2.  
Có lúc nào
trong đường đời, bạn cho rằng đường phải đi không nhất thiết phải là con đường
“Tử Nạn-Phục Sinh” của Thầy Giê-su? Tại sao?

3.  
Là quý chức
hội đồng, hội đoàn giáo xứ, các bạn có bao giờ hăng máu nói “uống nổi” với ý
nghĩa thật ra chỉ là “cố đấm ăn xôi”?

20-5-2019, GTHH

 

 

PHẦN HUẤN GIÁO

Phần IV: GIÁO DÂN TRONG CHIẾU KÍCH RAO GIẢNG TIN MỪNG CHO THẾ GIỚI

GIÁO DÂN LÀ CHỨNG TỪ TIN MỪNG GIỮA LÒNG THẾ GIỚI

 

“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào
che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt
trên đế để soi chiếu cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em
phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em
làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.” (Mt 5:14-16)

 

Chính dựa vào đoạn Tin Mừng này mà Công Đồng Va-ti-can II đã mạnh dạng gọi
Hội Thánh là Lumen Gentium (Ánh Sáng Muôn Dân),
và điều này đặc biệt đúng trong việc canh tân chiều kích giáo dân, cũng như
định hướng cho mục vụ trần thế của Hội Thánh, là Nhiệm Thể Đức Ki-tô. Thế giới,
trong tất cả sự đa diện thuận cũng như nghịch với Tin Mừng, là bối cảnh mà Hội
Thánh được đặt vào để mang ánh sáng của Đức Ki-tô tới soi chiếu nó.

 

1/ Thế giới với các chiều kích văn hóa của nó

 

Khi nói tới thế giới trần gian, ta không được phép quên rằng: trước hết, đó
là một thực tại tốt đẹp được Thiên Chúa dựng nên trong chương trình tạo đựng
của Người, đồng thời đó cũng là một thực thể đã sa ngã cần được Người cứu độ.
Cách riêng, khi nói tới thế giới dưới khía cạnh con người – là đối tượng thật
của Tin Mừng, ta nên dùng ý niệm văn hóa để diễn tả nó.

 

Ta tạm xác định nội dung của văn hóa như sau: ‘văn hóa là tất cả những gì
con người dùng để trau dồi và phát triển các khả năng thể xác và tinh thần của
mình, lồng trong các điều kiện địa lý, nhân văn, truyền thống và lịch sử nhất
định… Văn hóa là một tập hợp bao gồm nhiều phương diện phức tạp của cuộc sống
như sắc tộc, ngôn ngữ, phong tục, nghệ thuật…, thậm chí gồm cả niềm tin và các
tín ngưỡng diễn tả nó. Văn hóa còn là những kinh nghiệm hoài bão của các thế hệ
đi trước được lưu lại trong các công trình của con người như văn chương, mỹ
thuật, pháp luật, kinh tế v.v. và được truyền cho các thế hệ kế tiếp’. Văn hóa
được coi như kho tàng chung và thiêng liêng của mỗi dân tộc; và trong một mức
độ nào đó, đôi khi còn được nhìn nhận như di sản chung của toàn thể nhân loại
(xem hoạt động của UNESCO).

 

Thế nhưng, không một nền văn hóa nào trên trần gian có thể được coi là hoàn
hảo cả! Mọi nền văn hóa đều tồn tại với những thiếu xót và khiếm khuyết của
riêng nó, do đó mọi nền văn hóa đều luôn cần được điều chỉnh để thăng tiến hơn
nữa. Một trong các nguyên nhân chính làm cho văn hóa bị lệch lạc chính là dục
vọng và lòng tham của con người. Do đó, rất nhiều khi văn hóa mất đi định hướng
tích cực của nó, và quay đầu làm tha hóa cũng như chống lại chính hạnh phúc
đích thực của con người. Trong ngôn ngữ của lịch sử cứu độ, chúng ta khẳng định
rằng: mọi nền văn hóa đều cần được ánh sáng Tin Mừng soi chiếu, hầu phát huy
được tất cả các tính năng cao đẹp nhất của chúng.

 

2/ Ý nghĩa của việc Hội Thánh đem Tin Mừng cho thế giới

 

Đức Giê-su đã đến trần gian trong một bối cảnh văn hóa rõ rệt, văn hóa của
dân tộc Híp-ri lồng trong bối cảnh lớn hơn của văn hóa Hy lạp – Rô ma. Người đã
trọn vẹn tiếp nhận những nét tích cực của các nền văn hóa cao đẹp đó, và đã rao
giảng Tin Mừng Nước Trời bằng chính ngôn ngữ, truyền thống, lịch sử của nó…,
nhưng đồng thời Người cũng định hướng lại rất nhiều điều mà các nền văn hóa này
khiếm khuyết, để thăng hoa và nâng chúng lên một cấp độ mới cao đẹp hơn.

 

Hội Thánh Đức Ki-tô cũng đã được khai sinh và lớn lên giữa bối cảnh văn hóa
Híp-ri, rồi Hy-lạp và Rô-ma vào thời đại đó. Trong một mức độ nào đó, Hội Thánh
theo dòng lịch sử cũng đã khoác lên mình không ít những yếu tố bên ngoài của
các nền văn hóa thuộc xã hội Híp-ri, rồi Hy-lạp Rô-ma, rồi phương tây. Với Công
Đồng Va-ti-can II, hơn khi nào hết, Hội Thánh nhận ra rằng mình có nhu cầu cấp
bách là rộng mở tiếp thu những gì là tích cực của mọi nền văn hóa khác, ở bất
cứ đâu con cái mình hiện diện. Nói tóm lại, Hội Thánh nhất thiết cần hội nhập
vào các thực tại của con người và dân tộc mà các phần tử mình hiện diện, hầu có
thể diễn tả niềm tin Ki-tô, và đem ánh sáng Tin Mừng tới cho họ.

 

Hơn thế nữa, Hội Thánh còn có thể đóng góp rất nhiều điều tích cực cho các
nền văn hóa, tại bất cứ đâu Tin Mừng được hiện diện cách tích cực. Lịch sử
trong các thế kỷ qua đã cống hiến những bằng chức hùng hồn cho thấy điều này,
nhất là tại các quốc gia phương tây. Tin Mừng của Đức Ki-tô đã không ngừng
chiếu sáng trên các vấn đề lớn của nhân loại như trả lại phẩm giá cho mọi người
(xóa bỏ nô lệ, bình đẳng giới tính, tôn trọng lao động…), tôn trọng sự sống
(bảo vệ thai nhi và chăm sóc trẻ nhỏ…), giúp xây dựng xã hội công bình hơn,
phát triển các dân tộc, và tiến tới một thế giới hòa bình thịnh vượng hơn.

 

Tuy nhiên, thời nào cũng vậy và nhất là ngày nay, nhiều nền văn hóa nhân
loại dầu đã có nhiều tiến bộ nhất là về văn minh khoa học kỹ thuật, vẫn đang
phải giáp mặt với những thách đố cực kỳ nghiêm trọng. Đang có khuynh hướng tách
rời văn hóa ra khỏi các định hướng Tin Mừng, và do đó ngày càng có nguy cơ đi
ngược lại với những đòi hỏi thiết thân nhất của hạnh phúc trường tồn của con
người. Hơn bao giờ hết, Hội Thánh thấy cần khẩn thiết dành cho thế giới con
người một mối quan tâm rất đặc biệt (xem Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et
Spes
). Tông Huấn Người Ki-tô hữu Giáo Dân đã gióng tiếng
cảnh báo như sau: “Sự ly khai giữa Tin Mừng và văn hóa quả là một thẳm trạng
của thời đại chúng ta, cũng như của nhiều thời đại trước. Như vậy Hội Thánh
phải dồn mọi nỗ lực để quảng đại thực hiện công cuộc Phúc Âm hóa thế giới; đúng
hơn phải Phúc âm hóa cho bằng được mọi nền văn hóa.” (CFL số 44) 

 

3/ Vai trò tiền phong của giáo dân

 

Đứng đầu trong trọng trách này, ta phải kể tới vai trò của các Ki-tô hữu
giáo dân, vì họ là những người sống trong lòng trần gian, ngụp lặn giữa các
thực tại trần thế hơn cả. Sự hiện diện liên tục và sâu sắc này chính là đặc thù
của họ trong Hội Thánh của Đức Ki-tô. Chính nhờ họ và qua họ, mà Đức Giê-su và
Hội Thánh Người liên tục nhập thể giữa lòng nhân loại và thế giới!

 

Liên đới với các thực tại trần gian chính là sự sống còn của họ, không chỉ
dưới khía cạnh con người xã hội, nhưng cả trong phương diện Tin Mừng Nước Trời.
Họ chỉ thực sự là Ki-tô hữu, một khi biết sống Tin Mừng giữa đời; đồng thời
cũng chính trong tư cách Ki-tô hữu mà họ hội nhập cách hữu hiệu và thâm sâu vào
các nền văn hóa đa dạng bao quanh. Ta nên nhớ rằng: Tin Mừng của Đức Giê-su
vượt trên mọi nền văn hóa, không để mình bị trói cột vào bất cứ một nền văn hóa
cá biệt nào, nhưng lại có khả năng thâm nhập vào và thăng hoa mọi nền văn hóa.
Thánh Gio-an Bosco đã diễn đạt điều này trong câu châm ngôn tuy đơn sơ nhưng
rất cụ thể như sau: ‘giáo dục người trẻ hầu họ trở nên những công dân tốt, và
các Ki-tô hữu tốt’. Người Ki-tô hữu giáo dân càng dấn sâu vào các nền văn hóa
của dân tộc và xã hội mình bao nhiêu, thì lại càng liên đới cách sâu sát với
tất cả những gì là tốt đẹp và cao quí của nó bấy nhiêu, đồng thời càng phát huy
được các giá trị Tin Mừng vào chính cái thế giới cụ thể đó. Họ sẽ thực sự là
công dân tích cực của xã hội trần thế, có khả năng thăng tiến con người và xã
hội cách thiết thực, đồng thời chiếu ánh sáng Tin Mừng của Đức Ki-tô vào thế
giới.

 

Tông Huấn mạnh mẽ xác định cách làm việc như sau: “Khám phá và
giúp khám phá ra phẩm giá không thể bị xúc phạm của mọi nhân vị, đó là nhiệm vụ
chủ yếu, và theo một nghĩa nào đó, là nhiệm vụ trung tâm và liên kết trong công
việc phục vụ mà Hội Thánh, đặc biệt là giáo dân, được mời gọi để phục vụ cộng
đồng nhân loại” (CFL số 37). 
Trong đoạn văn này, chúng ta khám phá ra
một thái độ cơ bản khác của Hội Thánh, đặc biệt là của giáo dân đối với thế
giới. Ngoài những điều tốt lành đang mời gọi chúng ta có một thái độ liên đới
để cùng tìm cách phát triển, thế giới còn đầy dẫy những sự dữ, những xúc phạm,
những phản bội, những hủy diệt chống lại điều cao quí nhất là chính phẩm giá
của con người. Tin Mừng, dưới tác động chữa lành và cứu độ của nó, sẽ tìm cách
chỉnh đốn và nâng cấp nhân vị con người lên một tầng cao mới. Giáo dân là những
tác nhân hàng ngày sinh sống giữa những thực tại hiện sinh đầy bi tráng của thế
giới, và một khi chính họ được Tin Mừng hoán cải, nhờ lối sống bác ái yêu
thương và tích cực phục vụ của mình, họ sẽ xây dựng được một thế giới trần gian
ngày càng tốt đẹp, và kiến tạo nhân loại ngày càng công bình và huynh đệ hơn. “Hoán
cải lương tâm cá nhân cũng như tập thể, hoán cải sinh hoạt mà họ đang dấn thân,
hoán cải đời sống và môi trường cụ thể của họ” 
(CFL số 44), đó là
những điều mà mọi phần tử của Hội Thánh, đặc biệt những người Ki-tô giáo dân,
sẽ góp phần mình vào việc xây dựng thế giới và xã hội loài người dựa trên Tin
Mừng của Chúa.

 

Câu hỏi gởi ý:

 

·        
Bạn có cho
rằng: được sống giữa trần thế chính là một ưu điểm và một hồng ân, mà các Ki-tô
hữu giáo dân có thể tự hào.., hay chỉ nhìn thấy cách sống này toàn là tiêu cực
và thấp hèn để mà không ngừng than vãn?

·        
Trong tư cách
một giáo dân Công Giáo, bạn có bao giờ nghĩ rằng văn hóa chân chính của người
Việt Nam có những nét tích cực đối với Tin Mừng? Và có bao giờ bạn nỗ lực khai
thác để sống Tin Mừng sâu hơn không?

 

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty, SBD

 

 

PHẦN MỤC VỤ

HỌC VỚI NGƯỜI THẦY TUYỆT VỜI

 

Lời mở

Mỗi người chúng ta thường dành 10 hay 20 đầu tiên trong cuộc đời để học
hành. Chúng ta tốn rất nhiều công sức, thời giờ, tiền của cho hoạt động giáo
dục này, nhưng rất ít người tự hỏi: Học để làm gì? Học thế nào cho hiệu quả
nhất? Học với ai cho xứng đáng nhất?

 

1. Học để làm gì?

Trong hơn 10 thế kỷ bị người Trung Quốc đô hộ (111 TCN – 938) và 10 thế kỷ
độc lập (939-1945), người Việt học để làm quan, vì đó là cách tiến thân và
khẳng định chính mình nhanh nhất trong một xã hội phong kiến với nền quân chủ
chuyên chế. Nội dung học là bộ Tứ Thư, Ngũ Kinh của Trung Quốc, và một số kỹ
năng thơ phú vì nền giáo dục nước ta bị ảnh hưởng nặng nề của văn hoá Trung
Quốc. Phương pháp học tập, cách thi cử cũng vì nội dung này mà bị hạn hẹp vào
những cách ứng xử trong mối tương quan xã hội như: vua-tôi, cha con, chồng vợ,
anh em, bạn bè theo tam cương, ngũ luân hoặc theo những tiêu chuẩn: nhân,
nghĩa, lễ, tín, trí hay công, dung, ngôn, hạnh.

 

Bước vào thời kỳ dân chủ cộng hoà cho cả hai miền Nam Bắc (1945-nay), dù
nội dung học là những kiến thức thiết thực hơn, nhưng phương pháp học, cách thi
cử không khác xưa bao nhiêu. Gần đây người ta mới nhận ra những hạn chế của nền
giáo dục này và đang quyết liệt đòi phải “đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo
dục và đào tạo để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nền kinh
tế thị trường, hội nhập quốc tế”[12].

 

Lý do là vì nền giáo dục hiện nay quá chú trọng vào việc truyền đạt kiến
thức, mang nặng tính cách nhồi nhét, trong khi lại coi thường việc vận dụng
kiến thức để giải quyết những vấn đề mà công việc và cuộc sống đặt ra. Thật ra,
khoa học và công nghệ phát triển rất nhanh, kho tàng kiến thức mỗi ngày một
lớn, nên một số tri thức cũng nhanh chóng trở thành lạc hậu và bị đào thải. Tin
học và truyền thông thế giới lại đòi hỏi con người phải hoà nhập vào cộng đồng
quốc tế, nếu không sẽ tụt hậu và bị bỏ rơi.

 

Vì thế, tham vọng muốn trang bị cho người học đầy đủ kiến thức cơ bản của
nhân loại trong chương trình giáo dục là không thể, không cần thiết và không
hiệu quả. Người học có thể tự đào tạo các kỹ năng và phẩm chất nhờ các phương
tiện truyền thông và có thể tự học suốt đời.

 

Nếu có dịp hỏi các học sinh, sinh viên và phụ huynh học sinh học để làm gì,
thì nhiều người sẽ trả lời rằng không biết học để làm gì, vì chỉ làm theo mọi
người; hay học để có công ăn việc làm, để kiếm tiền, để sau này giúp đỡ gia
đình. Chỉ có vài người trả lời học để mở mang kiến thức hay để hoàn thiện chính
mình.

 

Năm 1997, Hội đồng Giáo dục của Unesco đã công bố một thông điệp mang tên:
Học tập – một kho báu tiềm ẩn” để xây dựng bốn trụ cột cho việc học và
định hướng cho việc giáo dục thế kỷ XXI: “Học để biết, học để làm, học để chung
sống, học để tự khẳng định mình” (Learning to know, to do, to live together and
to be). Bốn trụ cột này tạo nên một thể thống nhất vì chúng liên đới và tác
động lên nhau để xây dựng thành “một con người có giáo dục”. Thiếu một trụ cột
nào hay yếu kém một trụ cột nào thì nền giáo dục không toàn vẹn và hoàn hảo.

 

Công đồng Vaticanô II (1962-1965) đã ra tuyên ngôn “Gravissimum
Educationis” ngày 28/10/1965 và nhắc nhở chúng ta về “vai trò vô cùng quan
trọng của việc giáo dục trong đời sống con người và tầm ảnh hưởng ngày càng sâu
rộng của ngành giáo dục đối với sự phát triển của xã hội hiện nay”. Học không
phải chỉ để biết, để làm, để sống, để khẳng định mình như một con người mà còn
như một người con của Thiên Chúa, hiểu biết vô cùng, hành động phi thường, tồn
tại mãi mãi và hạnh phúc vô biên. Bạn có muốn học để được như thế không?

 

2. Học thế nào cho hiệu quả nhất?

Tuỳ theo mục đích học tập, người ta giới thiệu nhiều phương pháp học để đạt
hiệu quả cao.

Nếu học để thu nhận được nhiều kiến thức, kỹ năng, người ta khuyên nên chọn
thời điểm và không gian yên tĩnh, nên học vào buổi sáng, nên ngủ trưa và ngủ
đêm đủ để hồi phục trí não, tập trung cao độ trong khoảng 1 giờ rồi nghỉ giải
lao cho đầu óc thư giãn, tập ghi nhớ bằng các dàn bài tóm tắt, hạn chế nghe
nhạc trong khi học, không học khi vừa ăn xong.

 

Nếu học để hành động, người ta khuyên học sinh tập trung nghe giảng để tăng
hiệu suất tiếp thu, ghi chép hiệu quả, tích cực thực hành và làm bài tập, học
từ cơ bản đến nâng cao, tập thói quen tự học, học với thái độ tích cực[13].

 

Nếu học để sống tốt đẹp với người khác, người ta khuyên người học cần hiểu
biết tâm lý con người, các môn khoa học xã hội nhân văn, quản lý nhân sự… Muốn
thành công, người đó cần có nhận thức đầy đủ về con người, về cộng đồng nhân
loại mình đang sống và luyện tập các đức tính xã hội.

 

Nếu học để tự khẳng định mình thật sự là ai khi phát triển được hết những
năng lực và phẩm chất của con người như mục đích cao cả nhất của hoạt động giáo
dục (học để làm người, để thành nhân), thì khẳng định mình để làm gì nếu không
có người nào hay Đấng nào tồn tại mãi mãi để công nhận sự khẳng định đó? Trong
khi con người tận thâm tâm luôn muốn tự khẳng định mình, luôn muốn sống mãi,
trẻ mãi, đẹp mãi. Vậy ta đi tìm phương pháp học nào để đạt được điều đó?

Tuy nhiên, trước khi đi tìm phương pháp để thu nhận những hiểu biết, kỹ
năng làm, nghệ thuật sống, rèn luyện ý chí, đón nhận tình yêu và hạnh phúc, ta
cần phải hiểu rõ chúng là gì trong con người mình.

 

Các nhà khoa học cho đến hôm nay, vẫn chưa tìm ra được chỗ chúng ẩn náu
trong con người. Người ta nói đến trái tim chứa đựng tình yêu, nhưng mổ nó ra,
không thấy tình yêu nào cả. Người ta nói đến bộ não với hàng trăm tỷ tế bào
thần kinh, nhưng lục tìm trong đó chỉ thấy những đơn chất C H O N, sắt đồng chì
kẽm. Khi con người suy nghĩ hay có cảm xúc yêu thương, người ta chỉ thấy các
dòng xung động điện chạy trong sợi trục của tế bào thần kinh, rồi đến cuối sợi
trục, ở khe khớp thần kinh (synap) chúng phóng ra các chất dẫn truyền thần kinh
là các túi hoá chất[14].

 

Kiến thức, cảm xúc, tình yêu chỉ là những phản ứng như thế. Khoa học cũng
chưa thể nào đo được kiến thức thế nào là cao, cảm xúc thế nào là mạnh, tình
yêu thế nào là đẹp! Chúng phải bắt nguồn từ đâu đó để chuyển đến ta và ta phải
biết cách để đón nhận, lưu giữ và phát huy chúng, cho cuộc đời của mình phong
phú, tươi đẹp, hạnh phúc.

Như thế, phương pháp học bằng tinh thần (chứ không chỉ bằng bộ não) lại tóm
gọn vào vài điểm cơ bản sau đây:

 

– Trí vô tư

Giữ sao cho tâm trí ta được hồn nhiên, trong sáng để dễ dàng tiếp nhận
những kiến thức hữu ích, những kỹ năng hữu dụng và nhất là những sự thật về mọi
người, mọi vật quanh ta.

Trong thời đại thông tin kỹ thuật số này, nhiều người đã làm thương tổn,
thậm chí huỷ hoại tâm trí của mình. Ký ức hay bộ nhớ của họ chứa đầy những hình
ảnh đồi truỵ, bạo lực, ma quái hay những trò chơi vô nghĩa. Ta cứ tính thử xem:
1 giây có 24 hình ảnh động đi qua con mắt rồi lọt vào bộ nhớ, trong đó chứa các
dữ liệu về màu sắc, tiếng nói, âm thanh, ngữ nghĩa, cử động, cảm xúc của từng
ảnh. 1 giờ xem phim hay chơi game online là bộ nhớ phải chứa hàng tỉ tỉ dữ
liệu. Còn đâu bộ nhớ thừa ra cho việc học!

 

– Thở nhiều khí trời và khí thiêng

Khi học, bộ não cần rất nhiều khí trời để chuyển hoá các chất nuôi dưỡng từ
máu và dịch não tuỷ cũng như khí oxy vào các tế bào thần kinh. Do đó, khi học
nên ngồi thẳng, thỉnh thoảng hít thật dài hơi và xoa các vùng vỏ não như thị
giác, thính giác, cảm xúc, vận động, vùng ngôn ngữ Broca, Wernicke, Geschwind,
vùng điều hành trung tâm… cho máu lưu thông để kích thích hoạt động thần kinh[15].

 

Nếu bạn đã tin rằng tư tưởng, tình cảm, kiến thức của bạn bắt nguồn từ một
tinh thần tuyệt đối, thì bạn cần phải tiếp cận được với nguồn đó bằng các hình
thức được các tôn giáo đề nghị như cầu nguyện, suy niệm, tâm niệm, chiêm niệm,
thiền định… Như thế, phương pháp học theo khoa học và học theo tôn giáo không
có đối lập và mâu thuẫn với nhau như một vài nhà khoa học vô thần diễn tả[16]. Ngược lại,
khoa học và tôn giáo bổ túc cho nhau để giúp cho tâm trí con người mở ra với
Đấng Siêu Việt và hướng tới vô biên[17].

Tinh thần cũng có một bộ não siêu nhiên chứa đựng tất cả những gì thuộc về
nó, nên ta cũng cần thở khí thiêng để chuyển hoá được các ân huệ mà tinh thần
tuyệt đối chia sẻ cho ta. Kitô giáo gọi thần khí ấy là Chúa Thánh Thần, được
Đức Giêsu Kitô Phục Sinh ban cho các môn đệ của Người khi thổi hơi trên họ và
nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,22).

 

Vì thế, người tín hữu Kitô không phải chỉ học bằng sức lực của con người mà
còn bằng các ơn lành của Chúa Thánh Thần. Lịch sử khoa học nhân loại đã chứng
minh điểu đó với những nhà bác học như Ampère, Volt, Newton, Marie Curie…

 

3. Học với ai cho xứng đáng nhất?

Trong đời sống con người, chúng ta đã được học với nhiều người thầy và cảm
nghiệm rằng thầy nào càng yêu mến ta, càng dạy ta những điều tốt đẹp, ta càng
quý trọng, biết ơn. Vị thầy nào càng dạy được nhiều người, ảnh hưởng và thay
đổi lớn lao cuộc đời con người, thì càng được tôn vinh. Tuy nhiên, ta nên hiểu
rằng mọi tư tưởng tốt đẹp, sự khôn ngoan, tình yêu, ân huệ và những gì thuộc về
tinh thần đều bắt nguồn từ Thiên Chúa, Đấng tạo thành con người giống hình ảnh
Ngài và ban cho con người có tinh thần vượt ra khỏi những giới hạn của vật
chất, không gian và thời gian. Ngài đã sai Con Một của Ngài là Ngôi Lời Thiên
Chúa trở thành con người, trở thành Đức Giêsu Nazareth, để cứu độ con người và
toàn thể vũ trụ và chỉ cho muôn loài con đường tìm về sự thật toàn diện và sự
sống vĩnh hằng. Ngài còn ban Chúa Thánh Thần cho con người để soi sáng tâm trí
và giúp con người nhận ra con đường dẫn tới Thiên Chúa.

 

Khi nhận ra Thiên Chúa là vị thầy tối cao (x. Mt 23,8-9), nguồn của mọi tri
thức, con người mới sẵn lòng chia sẻ cách quảng đại và vô vị lợi những gì mình
khám phá được cho mọi người thay vì giấu nghề, giữ bí mật, đòi tác quyền quá
đáng như hiện nay.

 

Khi nhận ra Đức Giêsu là vị Thiên Chúa cụ thể, là Người Thầy tuyệt vời, con
người mới cảm thấy tự hào được làm môn đệ của Người Thầy và cũng là vị Chúa của
mình (x. Ga 13,13,14). Người không chỉ dạy ta những mảnh sự thật nhưng một sự
thật toàn diện, hoàn hảo: về Thiên Chúa, về con người, về vạn vật, về chính
mình. Sự thật là chính Đức Giêsu sẽ giải thoát ta khỏi mọi u mê lầm lạc (x. Ga
8,32), đem lại cho ta sự tự do của con cái Thiên Chúa và chia sẻ cho ta sự sống
vĩnh hằng. Đức Giêsu đã xác định điều đó khi Người nói: “Tôi là con đường,
là sự thật và là sự sống
” (Ga 14,6).

 

Vì thế, Đức Giêsu mời gọi ta: “Anh em hãy học với tôi” (Mt 11,29).
Học với Đức Giêsu để biết, không phải chỉ một số kiến thức, nhưng đạt tới nguồn
sự khôn ngoan. Lúc đó ta có khả năng vô tận để khám phá ra vạn vật vì tất cả
thụ tạo được dựng nên nhờ Người và cho Người.

 

Học với Đức Giêsu để hành động như Người đã làm khi yêu thương đến nỗi chết
cho tất cả và sống lại vì tất cả. Lúc đó ta có khả năng để nói cho gió im, biển
lặng, bánh cá hoá nhiều, chữa lành bệnh tật và cho cả kẻ chết được sống lại.

 

Học với Đức Giêsu bài học sống với tha nhân cách quảng đại và cao thượng
như Người yêu cầu: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em
(Ga 13,34). Lúc đó ta sẽ làm cho cộng đồng nhân loại bình an, hạnh phúc, phát
triển vững bền.

Học với Đức Giêsu để tự khẳng định mình, không phải chỉ làm chủ được mình
và tìm ra ý nghĩa của đời mình, như một con người sống tạm bợ ở trần thế, nhưng
ta còn khẳng định mình là con cái vĩnh hằng của Thiên Chúa trong Nước Trời mà
chúng ta cùng xây dựng với Người (x. Lc 11,20; 17,20-21).

 

Lời kết

Vì thế, ta hãy tin tưởng tuyệt đối vào Thầy Giêsu để chăm chú học hành và
thực hiện lời dạy của Người trong mọi hoàn cảnh của đời sống: “Bỏ Thầy chúng
con biết theo ai? Chỉ Thầy mới có những lời ban sự sống
” (Ga 6,68).

 

Câu hỏi gợi ý

1. Bạn có nhận định gì về nền giáo dục của nước ta hiện nay?

2. Bạn có kinh nghiệm nào khi học với Thầy Giêsu?

3. Bạn có kinh nghiệm nào về sự soi sáng của Chúa Thánh Thần và ân huệ của
Ngài?

 

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn

 

           

 

[1] Có hình dáng giống cái chum, nhưng thường nhỏ hơn rất nhiều, hũ được
làm bằng sành, gốm, thủy tinh. Cũng như chum, khi thả xuống nước, hũ chao qua
chao lại, tròng trành, uống no nước rồi mới chìm, và chìm sâu tới đáy.

[2] Có lẽ, khi nói uống như trâu, như rồng, uống ngập trong bia
rượu, tắm rượu, tắm bia… cũng là những cách nói khác đi của “uống như hũ
chìm”.

[3] Mt 20,22.

[4] Mt 20,21.

[5] Mt 22,36-40.

[6] Được Chúa ban ơn, các ngài cũng đã “uống nổi chén đắng”.

[7] Kh 21,1-2.

[8] Cv 1,8.

[9] Cách riêng, điều này có thể được áp dụng như những phương thế chính
yếu cho các thành viên hội đồng, hội đoàn trong giáo xứ, đại diện tiếng nói của
các phần tử trong giáo xứ. Thực vậy, các hội đồng và các hội đoàn trong giáo
xứ, tuy không theo nghĩa pháp lý, là những đại diện của giáo xứ, những đại diện
của gia đình giáo xứ về nhiều phương diện.

[10] 1 Cr 1,9.

[11] Ga 16,9.

[12]x. Hội nghị Trung ương 8, Đảng Cộng sản Việt Nam, khoá XI, ngày 4/11/2013.

[13] x. Internet, ngày 19/8/2017, bài Chăm thôi chưa đủ, muốn học
tốt phải tìm phương pháp học đúng
, Kênh 14.vn, mục Học đường.

[14] x. Bs. Alice Robert, Atlas giải phẫu cơ thể người, NXB Y
học, 2015, tr.300-307.

[15] x. Bs. Alice Robert, Atlas giải phẫu cơ thể người, NXB Y
học, 2015, tr.304-306.

[16] x. Ngô Bảo Châu, bài Học như thế nào, Internet, ngày
8/4/2013.

[17] x. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà bình, Tóm lược Học
thuyết Xã hội Công giáo
, số 130, NXB Tôn Giáo, 2007, tr. 112.

 

 


Trang Giáo Dục

Comment của bạn

avatar
  Subscribe  
Notify of